Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 17/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 17/2024/HNGĐ-ST NGÀY 11/03/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 11 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 429/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/11/2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐST – HNGĐ ngày 16/01/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2024/QĐST – HNGĐ ngày 31/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Hồng C, sinh năm 1996

Địa chỉ: Tổ I, ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991

Địa chỉ: Tổ I, ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Trịnh Thị Hồng C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn C1 vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 11/9/2018.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Ông C1 không chí thú làm ăn, một mình bà vừa phải đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống vừa chăm sóc các con, ông C1 không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng không hạnh phúc khi chung sống. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm, không ai quan tâm đến nhau. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông C1 nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C1.

- Về con chung: Bà và ông C1 có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 13/10/2014 và Nguyễn Hoàng Minh H, sinh ngày 02/11/2020. Bà C có nguyện vọng trực tiếp nuôi các con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà không yêu cầu ông C1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà: Bà C giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện và không bổ sung gì thêm.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C1:

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Nguyễn Văn C1 theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông C1 không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Hồng C đối với ông Nguyễn Văn C1 cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn C1.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 13/10/2014 và Nguyễn Hoàng Minh H, sinh ngày 02/11/2020 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông C1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà C phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Ông Nguyễn Văn C1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông C1.

[2]. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở xác định: Bà Trịnh Thị Hồng C và ông Nguyễn Văn C1 tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp.

Xét về quan hệ hôn nhân của bà C, ông C1: Bà C xác định vợ chồng chung sống nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Quá trình giải quyết vụ án, ông C1 đã được triệu tập tham gia phiên hòa giải để giải quyết mâu thuẫn gia đình nhưng ông C1 vắng mặt không có lý do và không có động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà C. Tại phiên tòa bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông C1.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà C, ông C1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà C đối với ông C1.

Về con chung: Bà C và ông C1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 13/10/2014 và cháu Nguyễn Hoàng Minh H, sinh ngày 02/11/2020. Bà C có nguyện vọng trực tiếp nuôi các con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà không yêu cầu ông C1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng nuôi con của bà C thấy: Cháu Tường V có nguyện vọng được sống với bà C, cháu H hiện đang còn nhỏ, cả hai cháu đều cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ và hiện đang sống với bà C. Do đó, để cháu Tường V và cháu H có được sự chăm sóc tốt, ổn định về nơi ở, việc học tập và sinh hoạt hàng ngày để phát triển bình thường về thể chất và tinh thần thì cần thiết giao cháu Tường V và cháu H cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà C.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu ông C1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xem xét.

[3]. Về án phí: Bà Trịnh Thị Hồng C phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Hồng C đối với ông Nguyễn Văn C1 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Văn C1.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Văn C1 giao cháu Nguyễn Ngọc Tường V, sinh ngày 13/10/2014 và Nguyễn Hoàng Minh H, sinh ngày 02/11/2020 cho bà Trịnh Thị Hồng C trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn C1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn C1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trịnh Thị Hồng C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007112 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Trịnh Thị Hồng C đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

30
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 17/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:17/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 11/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về