Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 09/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 09/2022/HNGĐ-ST NGÀY 14/02/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 14 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 365/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Hoàng Diễm T, sinh năm 1984; HKTT: số A ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Bá Bảo Trường, sinh năm 1973;

HKTT: số A ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Bà T và ông T có mặt)

NÔNỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Đặng Hoàng Diễm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và chồng bà là ông Nguyễn Bá Bảo T kết hôn vào năm 2000, hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng, sau đó vợ chồng làm ăn có tiền nên cất một căn nhà kế bên nhà cha mẹ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng là từ năm 2008, nguyên nhân là khi chồng nhậu vào thì xúc phạm danh dự nhân phẩm của bà, nói hai đứa con không phải là con của ông T làm bà rất bất mãn, sự việc này kéo dài từ năm 2008 đến nay. Đồng thời, do là công nhân đang làm tại khu công nghiệp X nên bà đi làm tăng ca rất nhiều, ông T cứ nói với bà là đi làm cho có hay là quan hệ trai gái. Bà có trao đổi với ông T về việc ông T nói bà như vậy, có lần bà nộp đơn ra UBND xã S để giải quyết hôn nhân giữa bà và ông T nhưng UBND không nhận đơn của bà. Ông T không có đánh bà nhưng thái độ của ông T rất hung dữ, làm bà và con chung rất sợ hãi. Mặc dù sống chung nhà nhưng vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2021 đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông T nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Bảo H, sinh ngày 13/11/2000 và Nguyễn Bá Minh Khh, sinh ngày 19/10/2007. Cháu H đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Kh thì cháu có nguyện vọng sống chung với ông bà nội, ông T cũng đang sống chung với cha mẹ ông T nên bà yêu cầu giao cháu Kh cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà cấp dưỡng theo khả năng của bà.

Về tài sản chung: có căn nhà như bà đã nêu trên, ngoài ra vợ chồng không còn tài sản chung nào khác. Đối với tài sản chung này thì vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; đối với phần đất gắn liền với căn nhà thì đây là tài sản của cha mẹ chồng.

Về nợ chung: không có.

Theo biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bị đơn Nguyễn Bá Bảo Ttrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông thừa nhận khi ông nhậu vào thì có những lời lẽ không đúng với vợ con, ông bị mất kiểm soát, qua bữa sau bà T nói với ông thì ông mới biết. Quá trình chung sống vợ chồng thì ông cố gắng sửa chữa rất nhiều. Theo ông, mâu thuẫn trầm trọng xảy ra từ giữa tháng 11/2021 do áp lực kinh tế, công việc không ổn định, lúc đó ông có lời qua tiếng lại với vợ chứ từ khi cưới nhau đến nay thì ông chưa đánh vợ lần nào. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Ông không đồng ý ly hôn với bà T vì ông còn thương vợ thương con, ông đề nghị bà T cho ông một cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Bảo H, sinh ngày 13/11/2000 và Nguyễn Bá Minh Kh, sinh ngày 19/10/2007. Đối với cháu H đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Kh, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T thì ông yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Kh, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: có căn nhà tại địa chỉ A ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre, ngoài ra vợ chồng không còn tài sản chung nào khác; đối với tài sản chung này thì vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; đối với phần đất gắn liền với căn nhà thì đây là tài sản của cha mẹ ông.

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Đặng Hoàng Diễm T trình bày: mâu thuẫn giữa bà và ông T kéo dài từ năm 2008 đến nay chứ không phải mới đây; bà đã cho ông T rất nhiều cơ hội, ông T nói sẽ sửa chữa nhưng thực tế không thay đổi. Hiện nay bà không còn sinh sống tại địa chỉ A ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vào ngày 13/2/2022, bà đã dọn ra nhà trọ sống, 02 con chung vẫn còn sinh sống chung với ông bà nội và ông T. Về quan hệ hôn nhân bà xác định không còn tình cảm với ông T, bà kiên quyết ly hôn với ông T. Bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Bà vẫn giữ nguyên quan điểm về con chung, tài sản chung và nợ chung. Trường hợp Tòa chấp nhận yêu cầu ly hôn, về phần cấp dưỡng nuôi con thì giữa bà và ông T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Bá Bảo Ttrình bày: ông thừa nhận khi ông nhậu vào thì có những lời lẽ không đúng với bà T. Từ khi nhận được đơn khởi kiện của bà T đến nay thì ông đã có thiện chí, có nhiều biện pháp để vợ chồng tôi hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà T không đồng ý, bà T cố tình né tránh ông. Vào ngày 13/02/2022, bà T đã tự ý dọn ra nhà trọ sinh sống. Nay bà T xác định không còn tình cảm với ông, kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn. Ông không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Về con chung thì ông yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Kh, về mức cấp dưỡng nuôi con thì giữa ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông vẫn giữ nguyên quan điểm về tài sản chung và nợ chung.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: tại phiên tòa ông T đồng ý ly hôn với bà T, do đó đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông T theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; Về con chung: cháu Hương đã trưởng thành nên không xem xét; cháu Kh cần giao cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với sự thỏa thuận của các đương sự; về mức cấp dưỡng nuôi con do các bên tự thỏa thuận nên không xem xét. Về tài sản chung: bà T và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: bà T và ông T khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: bà Đặng Hoàng Diễm T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Bá Bảo T, đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, ngoài ra bà T không có yêu cầu nào khác. Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo quy định tại Điều 51 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với ông T, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Bá Bảo T có nơi cư trú tại ấp 3, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyền giải quyết vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: vào năm 2000, bà T và ông T tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà T và ông T là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2021 (BL03) và Biên bản lấy lời khai ngày 30/12/2021 (BL26, 27), bà T trình bày hiện nay vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là khi nhậu về ông T có những lời lẽ tục tĩu, xúc phạm bà, sự việc này đã kéo dài từ năm 2008 đến nay. Tại phiên tòa, ông T thừa nhận khi nhậu vào thì ông có những lời lẽ không đúng với bà T và xác nhận vào ngày 13/02/2022 thì bà T đã dọn ra nhà trọ sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, ông T không đồng ý ly hôn với bà T. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông T trình bày ông đã áp dụng các biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nay bà T kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn. Từ các tài liệu chứng cứ trên, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông T là phù hợp. Bà T và ông T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Bảo H, sinh ngày 13/11/2000 và Nguyễn Bá Minh Kh, sinh ngày 19/10/2007. Đối với cháu Hương đã trưởng thành, bà T và ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Đối với cháu Kh hiện đang sống chung với ông T và cha mẹ ông T. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà T và ông T thống nhất để cháu Kh cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét điều kiện thực tế, nguyện vọng của con chung và sự thỏa thuận của các đương sự, cần chấp nhận giao cháu Kh cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về mức cấp dưỡng nuôi con, bà T và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: bà T và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: bà T và ông T khai không có nên không xem xét.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình với số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Hoàng Diễm T, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Đặng Hoàng Diễm T với ông Nguyễn Bá Bảo T.

Về mức cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: bà Đặng Hoàng Diễm T và ông Nguyễn Bá Bảo T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo H, sinh ngày 13/11/2000 và Nguyễn Bá Minh Kh, sinh ngày 19/10/2007.

Đối với cháu Nguyễn Bảo H: đã trưởng thành, bà Đặng Hoàng Diễm T và ông Nguyễn Bá Bảo T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Đối với cháu Nguyễn Bá Minh Kh: sau khi ly hôn, giao cháu Nguyễn Bá Minh Kh cho ông Nguyễn Bá Bảo T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bá Minh Kh, bà Đặng Hoàng Diễm T và ông Nguyễn Bá Bảo T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấy đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: bà Đặng Hoàng Diễm T và ông Nguyễn Bá Bảo T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: bà Đặng Hoàng Diễm T và ông Nguyễn Bá Bảo T khai không có nên không xem xét.

2. Án phí: Bà Đặng Hoàng Diễm T phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002686 ngày 13 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (đã nộp xong).

3. Bà Đặng Hoàng Diễm T, ông Nguyễn Bá Bảo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

226
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn số 09/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:09/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/02/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về