Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 510/2023/HC-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 510/2023/HC-PT NGÀY 06/07/2023 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 159/2023/TLPT-HC ngày 15 tháng 3 năm 2023 “Khiếu kiện quyết định hành chính”.Do Bản án hành chính sơ thẩm số 721/2022/HC-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 605/2023/QĐPT-HC ngày 12 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Kiều P, sinh năm 1985 (có mặt). Địa chỉ: E16/29 ấp 5, xã V B, huyện B, Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Võ Thị L - Văn phòng Luật sư M thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H Địa chỉ: Số 349 Tân Túc, thị trấn Tân Túc, huyện B, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B (có đơn xin xét xử vắng mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

+ Ông Nguyễn Minh T – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B (có đơn xin xét xử vắng mặt)

+ Bà Phạm Thị Thùy Dương - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Quốc V - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: F7/16 ấp 6, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.2. Bà Nguyễn Kiều O; (vắng mặt)

3.3. Bà Nguyễn Thị Kiều M; (vắng mặt)

3.4. Ông Nguyễn Thành P; (vắng mặt) Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Thành P: Ông Nguyễn Kiều P (có mặt) Cùng địa chỉ: E16/29 ấp 5, xã V B, huyện B, Thành phố H.

3.5. Bà Nguyễn Thị Mỹ H; (vắng mặt) Địa chỉ: Nhà không số (cạnh nhà E16/29 ấp 5, xã V B), xã V, huyện B, Thành phố H).

3.6. Ông Lê Thanh T; (vắng mặt)

3.7. Bà Phan Thị T; (vắng mặt) Địa chỉ: Nhà không số (cạnh nhà E16/29 ấp 5, xã V B), xã V, huyện B, Thành phố H).

3.8. Bà Lê Thị N; (vắng mặt)

3.9. Bà Nguyễn Thị Tuyết A; (vắng mặt)

3.10. Bà Nguyễn Thị H Xinh; (vắng mặt)

3.11. Ông Nguyễn Ngọc S; (vắng mặt)

3.12. Bà Nguyễn Thị Ánh H; (vắng mặt)

3.13. Ông Nguyễn Tuấn K; (vắng mặt) Cùng địa chỉ: A6/57M ấp 1A, xã V, huyện B, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị Tuyết A: Ông Nguyễn Văn T (có mặt) hoặc ông Nguyễn Thanh Điền (vắng mặt) Địa chỉ: 124/1 đường số 14, phường Bình H H3 A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.14. Bà Nguyễn Thị Thanh T; (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 5, xã V B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.15. Bà Lê Thị H; (vắng mặt)

3.16. Bà Lê Thị G; (vắng mặt)

3.17. Ông Lê Văn L; (vắng mặt) Cùng địa chỉ: A8/48 ấp 1A, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.18. Bà Lê Thị L; (vắng mặt) Địa chỉ: A6/49 ấp 1A, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.19. Ông Lê Văn Lăng (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 12 ấp 1A, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.20. Bà Lê Thị R; (vắng mặt) Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim L. Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.21. Ông Lê Văn R; (vắng mặt)

3.22. Bà Lê Thị C; (vắng mặt)

3.23. Bà Nguyễn Thị Kim L; (vắng mặt) Cùng địa chỉ: 42 H3 Bình, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.24. Bà Lê Thị X;(vắng mặt) Địa chỉ: A8/48 ấp 1A, xã V, huyện B, Thành phố H.

3.25. Ông Lương Ngọc H (vắng mặt) Địa chỉ: Số 2 đường số 40, khu phố 8, phường Tân Tạo, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.26. Ông Lương Văn H1; (vắng mặt) Địa chỉ: 31A Bàu Cát 1, Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.27. Bà Lương Thị H; (vắng mặt) Địa chỉ: 213/31 H L, Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.28. Bà Lương Thị Lệ H2; (vắng mặt) Địa chỉ: 173 đường số 8, phường Bình H H3, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.29. Ông Lương Văn H3; (vắng mặt)

3.30. Ông Lương Thế H; (vắng mặt) Cùng địa chỉ: 81 đường số 1, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết A, bà Lê Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người khởi kiện ông Nguyễn Kiều P trình bày:

Gia đình ông là người trực tiếp sử dụng và quản lý toàn bộ nhà và đất thuộc thửa đất số 14 tờ bản đồ số 4 có tổng diện tích khoảng 2.163m2 từ trước năm 1975 tại xã V, huyện B, Thành phố H.

Ngày 01/11/1985, Ủy ban nhân dân huyện B chia xã V ra thành xã V và V B. Từ đó một phần đất của gia đình ông thuộc địa giới hành chính của xã V, phần còn lại thuộc xã V B. Ngày 14/6/2001, gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 1.818m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 51/QSDĐ/Q1 của Ủy ban nhân dân huyện B (cha ông là ông Nguyễn Văn Tao đứng tên đại diện hộ gia đình). Phần đất còn lại khoảng 343m2 thuộc xã V gia đình ông vẫn tiếp tục sử dụng nH chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 1992, mẹ ông là bà Trương Thị H mất. Năm 2015, cha ông cũng qua đời. Cha mẹ ông có 04 người con gồm:

1. Nguyễn Kiều P, sinh năm 1985;

2. Nguyễn Kiều O, sinh năm 1986;

3. Nguyễn Thành P, sinh năm 1990 (bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự vào năm 2019, ông Nguyễn Kiều P là người giám hộ);

4. Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm 1991.

Gia đình ông có xây dựng tường rào làm ranh đất với các hộ khác, hiện đang sử dụng ổn định.

Vào năm 2018, gia đình ông phát hiện hộ bà Phạm Thị Kvà hộ ông Nguyễn Văn Đ đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 1 phần diện tích do gia đình ông đang sử dụng. Sau khi phát sinh tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã V cho ông biết 01 phần đất của gia đình ông có diện tích khoảng 30m2 thuộc thửa số 640, tờ bản đồ số 17 đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ của bà Phạm Thị Kvà hộ của bà Lê Thị N cũng được Ủy ban nhân dân huyện B cấp quyền sử dụng 01 phần đất của gia đình ông thuộc 02 thửa đất số 638-1 và 639-1 có diện tích khoảng 313m2.

Tại buổi H3 giải ngày 30/5/2018 do Ủy ban nhân dân xã V tổ chức thì hộ bà Lê Thị N xác định ranh đất giữa gia đình ông và hộ bà N là hàng tre do bà N trồng, sau này bà N chặt tre và xây tường rào hơn 4 năm nay. Bà N thừa nhận tại biên bản H3 giải ngày 30/5/2018 như sau: “Tôi xác định phần đất của tôi và gia đình cháu P được cách bởi hàng rào đã được xây dựng và bà N yêu cầu liên hệ trung T đo đạc bản đồ vẽ cắm ranh lại cho chính xác theo thực tế”.

Cũng tại buổi H3 giải ngày 30/5/2018, bà L và ông H (đại diện hộ bà Phạm Thị Khơi) không đồng ý trả lại cho gia đình ông phần đất tranh chấp.

Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ bà Phạm Thị Kvà ông Nguyễn Văn Đ là những hộ có ranh đất liền kề với gia đình ông nH Ủy ban nhân dân huyện B không xác minh thực địa, không cho ký giáp ranh tứ cận nên cấp phần đất của gia đình ông đang sử dụng cho hộ gia đình khác từ đó dẫn đến thiệt hại cho gia đình ông.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27/11/2000 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị Kvà một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2727/QSDĐ/VLA ngày 06/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, cập nhật tên chủ sử dụng đất ngày 29/6/2006 cho hộ bà Lê Thị N. Cụ thể: Phần đất có ký hiệu số (1) + (2) + (3) +(4) = 1m2+24,6m2+52,2m2+4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 nằm trong giấy chứng nhận của bà Lê Thị N; (5)+ (6)+(7)+ (8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận của bà N và số (9)+ (10)+ (11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2 thuộc thửa số 640 nằm trong giấy chứng nhận của bà Phạm Thị Khơi, theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày: Thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Kiều P.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:

* Về vị trí:

- Thửa đất 638, thửa 639, tờ bản đồ số 17 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2711/QSDĐ ngày 06 tháng 7 năm 1999 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ (không phải cấp cho hộ bà Lê Thị N).

- Thửa đất 640, diện tích 1.515m2, tờ bản đồ số 17 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27 tháng 11 năm 2000 cho hộ bà Phạm Thị Khơi.

* Về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2711/QSDĐ ngày 06 tháng 7 năm 1999:

Căn cứ Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, hộ ông Nguyễn Văn Đ có quá trình sử dụng đất ổn định, được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã V thuận cấp, Ủy ban nhân xã có tờ trình đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ là đủ điều kiện theo quy định và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2722/QSDĐ ngày 06 tháng 7 năm 1999 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ Nguyễn Văn Đ là đúng quy định.

* Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Thửa đất 638, thửa 639, tờ bản đồ số 17 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2711/QSDĐ ngày 06 tháng 7 năm 1999 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ (không phải cấp cho hộ bà Lê Thị N), cụ thể:

Thành phần hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2711/QSDĐ ngày 06 tháng 7 năm 1999 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ gồm:

- Biên bản về việc họp Hội đồng xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất xã V của Ủy ban nhân dân xã V ngày 26 tháng 6 năm 1998.

- Thông báo niêm yết của Ủy ban nhân dân xã V.

- Thông báo niêm yết của Ủy ban nhân dân xã V ngày 18 tháng 5 năm 1998.

- Biên bản kết thúc việc để công khai hồ sơ đăng ký và xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất xã V ngày 03 tháng 5 năm 1998.

- Biên bản kết thúc việc để công khai hồ sơ đăng ký và xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất xã V ngày 23 tháng 9 năm 1998.

- Tờ trình số 77/TT/UB về phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã V ngày 25 tháng 5 năm 1998.

- Tờ trình số 158/TT/UB về phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã V ngày 23 tháng 9 năm 1998.

- Danh sách hộ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã V.

- Biên bản về việc họp xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21 tháng 6 năm 1999 của phòng Địa chính huyện B (nay là phòng Tài nguyên và Môi trường).

- Tờ trình số 533/TT-ĐC của phòng Địa chính huyện B (nay là phòng Tài nguyên và Môi trường) ngày 03 tháng 7 năm 1999 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã V.

- Quyết định số 548/QĐ-UB/QLĐT của Ủy ban nhân dân huyện B ngày 06 tháng 7 năm 1999 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Danh sách các hộ đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã V.

Căn cứ Bước 4, mục B, phần I, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh, quy định thành phần hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận căn cứ điểm B, phần II, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ phần II Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do di dời cơ quan và việc lưu trữ hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chưa hiệu quả nên thành phần hồ sơ lưu trữ không còn đầy đủ. Tuy nhiên, căn cứ quy định nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ là đảm bảo trình tự, thủ tục quy định tại điểm B, phần II, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh và phần II Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những cơ sở nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện B đề nghị Tòa bác yêu cầu của ông Nguyễn Kiều P về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

* Về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27 tháng 11 năm 2000 Căn cứ Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, hộ bà Phạm Thị Kcó quá trình sử dụng đất ổn định, được Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã V thuận cấp, Ủy ban nhân xã có tờ trình đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27 tháng 11 năm 2000 cho hộ bà Phạm Thị Klà đủ điều kiên, đúng quy định.

Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Thửa đất 640, diện tích 1.515m2, tờ bản đồ số 17 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27 tháng 11 năm 2000 cho hộ bà Phạm Thị Khơi, cụ thể:

Thành phần hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27 tháng 11 năm 2000 cho hộ bà Phạm Thị Kgồm:

- Biên bản về việc họp Hội đồng xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất xã V của Ủy ban nhân dân xã V ngày 04 tháng 7 năm 2000.

2000.

- Thông báo niêm yết của Ủy ban nhân dân xã V ngày 04 tháng 7 năm - Biên bản kết thúc việc để công khai hồ sơ đăng ký và xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất xã V ngày 19 tháng 7 năm 2000.

- Tờ trình số 109/TT/UB về phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã V ngày 20 tháng 7 năm 2000.

- Danh sách hộ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã V.

- Biên bản về việc họp xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16 tháng 8 năm 2000 của phòng Địa chính huyện B (nay là phòng Tài nguyên và Môi trường).

- Quyết định số 441/QĐ-UB/QLĐT của Ủy ban nhân dân huyện B ngày 27 tháng 11 năm 2000 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Danh sách các hộ đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã V.

Căn cứ Bước 4, mục B, phần I, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh.

Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận căn cứ điểm B, phần II, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh, quy định trình tự thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng trình tự.

Căn cứ phần II Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do di dời cơ quan và việc lưu trữ hồ sơ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chưa hiệu quả nên thành phần hồ sơ lưu trữ không còn đầy đủ. Tuy nhiên, căn cứ quy định nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Phạm Thị Klà đảm bảo trình tự, thủ tục quy định tại điểm B, phần II, Tài liệu hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 3 năm 1992 của Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh và phần II Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quy định thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những cơ sở nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện B đề nghị Tòa án bác yêu cầu của ông Nguyễn Kiều P về việc yêu cầu hủy một phần các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Tuyết Acó ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Hộ bà Lê Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kiều P. Ông P là người lấn đất rồi khởi kiện để yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận đã cấp cho hộ bà N là không có cơ sở. Các thửa đất này bà N đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có sơ đồ, bản vẽ đầy đủ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N là đúng quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Ngọc H, bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Gia đình ông (hộ bà Phạm Thị Khơi) có ranh giới rõ ràng với gia đình ông Nguyễn Kiều P là 4 trụ bê tông (nay còn 3 trụ) dọc theo phần đất. Hộ bà Phạm Thị Kkhông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kiều P.

Tại Bản án số 721/2022/HC-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kiều P:

- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27/11/2000 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị Kvề diện tích (9)+ (10)+ (11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2 thuộc thửa số 640, xã V, huyện B, Thành phố H.

- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2727/QSDĐ/VLA ngày 06/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, cập nhật tên chủ sử dụng đất ngày 29/6/2006 cho hộ bà Lê Thị N. Cụ thể: Phần đất có ký hiệu số (1) + (2) + (3) +(4) = 1m2+24,6m2+52,2m2+4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 nằm trong giấy chứng nhận của bà Lê Thị N; (5)+ (6)+(7)+ (8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận của bà N theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H có trách nhiệm điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Kvà bà Lê Thị N theo quyết định của Tòa án nêu trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/5/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Tuyết Acó đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đền nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, hủy án sơ thẩm trả hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Người khởi kiện cùng Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữ y bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, điều 241 Luật tố tụng hành chính, bán đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Tuyết A, giữ y bản án hành chính sơ thẩm số 721/2022/HC-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của người khởi kiện được làm đúng thời hạn, hình thức nội dụng đảm bảo theo quy định pháp luật.

Về việc xét xử vắng mặt đối với người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã V, huyện B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại bà Nguyễn Kiều O, bà Nguyễn Thị Kiều M, ông Nguyễn Thành P, bà Nguyễn Thị Mỹ H, ông Lê Thanh T, bà Phan Thị T, bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Tuyết A, bà Nguyễn Thị Hồng X, ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Ánh H, ông Nguyễn Tuấn K, bà Nguyễn Thị Thanh T, bà Lê Thị H, bà Lê Thị G, ông Lê Văn L, bà Lê Thị L, ông Lê Văn Lăng, bà Lê Thị R, ông Lê Văn R, bà Lê Thị C, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Lương Ngọc H, ông Lương Văn H1, bà Lương Thị H, bà Lương Thị Lệ H2, ông Lương Văn H3, ông Lương Thế H. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vắng mặt đối với những đương sự này.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết A, bà Lê Thị N:

[2.1] Tại Tòa người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị Tuyết Acho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Tuyết A và bà N trong đó phần diện tích đất ký hiệu số (2), (7), (8) có diện tích 120,1m2 gia đình ông P cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông P không có chứng cứ chứng minh phần đất này thuộc quyền quản lý sử dụng của ông P. Đối với phần đất ông P không được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, ông P cũng không có chứng cứ chứng minh là đất của ông P mà phần đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N nên thuộc quyền quản lý sử dụng của bà N.

[2.2] Theo ông P cho rằng, phần đất có ký hiệu số (1)+(2)+(3)+(4) = 1m2 +24,6m2+ 52,2m2+ 4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị N; (5)+(6)+(7)+(8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N và số (9)+(10)+(11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2 thuộc thửa số 640 nằm trong giấy chứng nhận của bà Phạm Thị Khơi, theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H là diện tích thuộc quyền sử dụng của gia đình ông P nên yêu cầu hủy các phần giấy chứng nhận của bà N, bà Kđược cấp phần đất nêu trên.

[2.3] Xét thấy: Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố H thể hiện phần diện tích 82,7m2 nêu trên, thực tế do gia đình ông P quản lý sử dụng (có xây hàng rào ranh đất), trong đó phần diện tích đất ký hiệu số (10) có diện tích 36,8m2 gia đình ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp trùng phần diện tích này với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà K, mặc dù gia đình bà K được cấp quyền sử dụng nH không quản lý, sử dụng phần đất diện tích (9)+(10)+(11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2. Do đó Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H cấp cho gia đình bà Kquyền sử dụng đất diện tích 82,7m2 nêu trên là không đúng hiện trạng sử dụng đất.

Đối với phần diện tích đất ký hiệu số (1)+(2)+(3)+(4) = 1m2+24,6m2+52,2m2+4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 và phần diện tích đất ký hiệu số (5)+(6)+(7)+ (8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N. Thực tế do gia đình ông P quản lý sử dụng (có xây hàng rào ranh đất), trong đó phần diện tích đất ký hiệu số (2), (7), (8) có diện tích 120,1m2 gia đình ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp trùng phần diện tích này với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N, mặc dù gia đình bà N được cấp quyền sử dụng đất nH không quản lý, sử dụng phần đất diện tích 82,1m2 thuộc thửa số 638 và phần diện tích đất ký hiệu số 304,3m2 thuộc thửa 639. Việc Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H cấp cho gia đình bà N quyền sử dụng đất diện tích 82,1m2 + 304,3m2 = 386,4m2 nêu trên là không đúng hiện trạng sử dụng đất.

[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, xét yêu cầu khởi kiện của ông P yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27/11/2000 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị Kvề diện tích (9)+ (10)+ (11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2 thuộc thửa số 640 và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2727/QSDĐ/VLA ngày 06/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, cập nhật tên chủ sử dụng đất ngày 29/6/2006 cho hộ bà Lê Thị N. Cụ thể: Phần đất có ký hiệu số (1) + (2) + (3) +(4) = 1m2+24,6m2+52,2m2+4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 nằm trong giấy chứng nhận của bà Lê Thị N; (5)+ (6)+(7)+ (8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận của bà N theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H là có cơ sở.

[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết A, bà Lê Thị N kháng cáo nH không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên không được chấp nhận.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhân định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân huyên B, Thành phố H phải chịu 300.000 đồng. Án phí hành chính phúc thẩm Án phí hành chính phúc thẩm bà Nguyễn Thị Tuyết Aphải chịu 300.000 đồng nH được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002310 ngày 13/6/2022 (do ông Nguyễn Văn T nộp thay) của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị N tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002311 ngày 13/6/2022 (do ông Nguyễn Văn T nộp thay) của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết A, bà Lê Thị N, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số: 721/2022/HC-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố H về Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, cụ thể như sau:

Căn cứ vào Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Kiều P:

- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2951/QSDĐ ngày 27/11/2000 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị Kvề diện tích (9)+ (10)+ (11) = 40m2+36,8m2+5,9m2 = 82,7m2 thuộc thửa số 640, xã V, huyện B, Thành phố H.

- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2727/QSDĐ/VLA ngày 06/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, cập nhật tên chủ sử dụng đất ngày 29/6/2006 cho hộ bà Lê Thị N. Cụ thể: Phần đất có ký hiệu số (1) + (2) + (3) +(4) = 1m2+24,6m2+52,2m2+4,3m2 = 82,1m2 thuộc thửa số 638 nằm trong giấy chứng nhận của bà Lê Thị N; (5)+ (6)+(7)+ (8) = 43m2+165,8m2+76,8m2+18,7m2 = 304,3m2 thuộc thửa số 639 nằm trong giấy chứng nhận của bà N theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 24/12/2021 của Trung T đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H có trách nhiệm điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Kvà bà Lê Thị N theo quyết định của Tòa án nêu trên.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố H phải nộp 300.000 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trả lại cho ông Nguyễn Kiều P tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0045568 ngày 05/11/2018 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Án phí hành chính phúc thẩm bà Nguyễn Thị Tuyết Aphải chịu 300.000 đồng nH được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002310 ngày 13/6/2022 (do ông Nguyễn Văn T nộp thay) của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị N tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002311 ngày 13/6/2022 (do ông Nguyễn Văn T nộp thay) của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

54
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 510/2023/HC-PT

Số hiệu:510/2023/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành: 06/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về