Bản án 99/2019/HS-ST ngày 28/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 99/2019/HS-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2019/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Quốc H (tên gọi khác: R), sinh ngày 05 tháng 7 năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: 288 đường B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đ, sinh năm 1968 và bà Thái Thị Y, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án, tiền sự: Không.

* Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, học hết lớp 11/12 thì nghỉ. Sau đó học và làm nghề thợ sơn cho đến ngày gây án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Bị hại: Chị Dương Ngọc Minh L, sinh ngày 26/10/1997.

Địa chỉ: 07 đường M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

 * Người làm chứng:

1. Ông Trần Đ, sinh ngày 22/02/1968.

Địa chỉ: 288 đường B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

2. Ông Dương Chí Đ, sinh ngày 10/3/1966.

Địa chỉ: 9/187 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 17/12/2018, Trần Quốc H đi đến nhà chị Dương Ngọc Minh L (sinh ngày 26/10/1997, trú tại 07 M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) viếng đám tang, rồi ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 06 giờ 40 phút ngày 18/12/2018, khi H chuẩn bị ra về thì nhìn thấy 02 chiếc điện thoại di động đang để trên chiếc ghế, cạnh bàn thờ. Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt, quan sát không thấy ai liền lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu đen của chị L đưa về nhà mình cất giấu ở phòng khách. Khi về đến nhà H nhận được điện thoại của chị L nói “Lên nhà có tí việc”, H quay lại nhà chị L thì bị Công an phường T mời lên làm việc khai nhận hành vi phạm tội.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu đen.

 Tại bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐG ngày 21/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định: Chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu đen, trị giá 5.000.000đồng (Năm triệu đồng).

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc điện thoại di động cho bị hại, chị Dương Ngọc Minh L nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 87/CT-VKS- HS ngày 03/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Giữ nguyên truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Quốc H 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc điện thoại di động cho bị hại, chị Dương Ngọc Minh L nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Quốc H phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 18/12/2018, tại nhà của chị Dương Ngọc Minh L tại 07 đường M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Quốc H có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Dương Ngọc Minh L 01 điện thoại di động hiệu Samsung A8. Qua định giá, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 5.000.000đồng.

Với hành vi như trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Quốc H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền phục vụ cho mục đích cá nhân, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy bị cáo nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đã đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[3]. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

[4]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chị Dương Ngọc Minh L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Quốc H phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Trần Quốc H (tên gọi khác: R) 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Quốc H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Trần Quốc H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Quốc H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Quốc H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Quốc H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

165
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 99/2019/HS-ST ngày 28/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:99/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Huế - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về