Bản án 99/2017/HSST ngày 18/12/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 99/2017/HSST NGÀY 18/12/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Hôm nay ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2017/HSST ngày 16/10/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2017/HSST- QĐ ngày 08/11/2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình S, Sinh năm 1990; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm T, thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Đình X (là thương binh) và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị H, Sinh năm 1990; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/7/2017. Hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Kh, Sinh năm 1988.

Trú tại: Xóm S1, Đ, Đ, G, Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bản cáo trạng số 80/CTr- VKS ngày 12/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Đình S về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau:

Do Nguyễn Đình S có vay tiền của anh Nguyễn Văn Kh nên khoảng 20 giờ ngày 22/5/2017, S có gọi điện thoại Kh đến nhà S để trả tiền. Lúc này, Kh đang ở trên thành phố Bắc Ninh chưa về nhà S được nên đã điện thoại cho em trai Kh là Nguyễn Văn Thành và bảo Thành đến nhà S. Nghe điện thoại của Kh xong, Thành rủ thêm Nguyễn Ngọc Hiệp đi cùng. Khi Thành và Hiệp đến nhà S thì không vào trong nhà mà đứng ở cổng chờ S. Một lúc sau thì có Nguyễn Văn Mạnh, (Mạnh là em con chú ruột của Kh và Thành) cũng đến nhà S và đứng ngoài cổng cùng Thành và Hiệp. Lúc này, S có ra mời Thành vào nhà nhưng Thành không vào. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Kh có điện thoại cho Thành bảo Thành về nhà lấy giấy tờ thể hiện việc S vay tiền Kh. Sau đó, Thành về nhà lấy giấy tờ rồi quay lại nhà S. Trên đường quay lại nhà S, Thành gặp Kh thì cả hai cùng nhau đi đến nhà S. Khi tới khu vực nhà S, Kh và S đứng nói chuyện tại khu vực đường làng phía sau nhà S. Kh yêu cầu S phải trả cho Kh số tiền nợ là 92.000.000đ. Tuy nhiên, S bảo không đủ tiền để trả nên hai bên xảy ra to tiếng với nhau. Lúc này, có bốn đồng chí công an xã Đ, huyện Gđến làm nhiệm vụ, yêu cầu Kh và S không được gây mất trật tự, nhưng Kh và S vẫn tiếp tục to tiếng, du đẩy nhau thì anh Hoàng Văn Cầu là Phó trường Công an xã Đ vào can ngăn và đứng nói chuyện với Kh. Khi S và Kh đứng ngang nhau và cách nhau khoảng 70cm, S dùng tay phải lấy trong túi quần phía sau, bên phải một cây gậy bằng kim loại, loại gậy rút hình trụ tròn có chiều dài 62,8cm, một đầu to, một đầu nhỏ, phía đầu to được bọc xốp màu đen dài 18.8cm. S chuyển chiếc gậy từ tay phải sang tay trái (S thuận tay trái) rồi dùng tay trái vẩy mạnh để gậy dài ra rồi S cầm gậy bằng tay trái dơ Ln cao vụt về phía Kh, đúng lúc này Kh quay mặt về phía S thì gậy của S vụt sượt trúng vào vùng trán bên trái của Kh và gây thương tích cho Kh. Ngay sau đó, lực lượng Công an xã Đ khống chế S đưa về trụ sở Công an xã Đ để làm việc. Kh bị thương tích được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Gđến ngày 26/5/2017 thì ra viện.

Ngày 22/5/2017, Công an xã Đ, huyện Gđã tiến hành thu giữ: 01 chiếc gậy bằng kim loại màu trắng, dạng gậy rút hình trụ, có chiều dài 62,8 cm. Một đầu to, một đầu nhỏ. Phía đầu to được bọc xốp màu đen, chiều dài 18,8 cm, bề mặt có vết rách dạng thẳng, chiều dài 15,3 cm. Phía đầu nhỏ bị cong, biến dạng một phần. Chỗ bị cong cách đầu nhỏ 13,8 cm. Gậy cũ đã qua sử dụng do Nguyễn Đình S giao nộp.

Ngày 29/5/2017, Nguyễn Văn Kh có đơn tố cáo gửi Công an huyện G, đề nghị xử lý việc Nguyễn Đình S có hành vi gây thương tích cho Kh theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/5/2017, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G, ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích số 83, trưng cầu Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, giám định tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Văn Kh.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số 2747/54 - TT1, ngày 14/6/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 02% (Hai phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương là do vật tày gây nên.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận do có mâu thuẫn trong việc vay nợ tiền giữa bị cáo và anh Kh nên ngày 22/5/2017 anh Kh cùng một số thanh niên là bạn bè và họ hàng nhà anh Kh đến nhà bị cáo để đòi nợ. Hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, trong lúc nóng giận S đã dùng tay trái cầm 01 chiếc gậy bằng kim loại vụt trúng vào vùng trán bên trái của Kh gây thương tích. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt. Đến nay bị cáo đã tự nguyện nôp 5.000.000đ tại Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả.

Người bị hại là anh Kh trình bày: Thương tích của anh là do bị cáo gây nên, ngoài ra còn có em bị cáo cũng tham gia đánh anh Kh. Anh Kh yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền là 92.000.000đ, bao gồm cả khoản nợ mà bị cáo đã vay nhưng chưa trả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gphân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản giám định pháp y, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác. Do vậy có đủ cơ sở xác định Nguyễn Đình S phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60; Điều 41; Điều 42 Bộ luật luật hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 99, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự. Xử phạt Nguyễn Đình S từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 10.800.000đ. Xác nhận bị cáo đã bồi thường trước cho bị hại số tiền 5.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự. Bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền là 5.800.000đ.

Tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Người bị hại đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường số tiền là 10.800.000đ và xử lý bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù với lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật thu hồi được, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận, ngày 22/5/2017 do có mâu thuẫn trong việc nay nợ tiền, Nguyễn Đình S đã có hành vi dùng gậy bằng kim loại vụt trúng vào vùng trán trái của Kh gây thương tích 2%. Mặc dù thương tích bị cáo gây ra cho bị hại chỉ là 2%, nhưng người bị hại có đơn yêu cầu xử lý bị cáo theo pháp luật và bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công người bị hại, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, mặc dù đã được lực lượng công an xã can thiệp nhưng bị cáo bất chấp vẫn dùng gậy tấn công người bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo phạm phải hai tình tiết định khung theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gtruy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình mới có tác dụng giáo dụng riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay đều có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra biết ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo đã tự giác nộp một phần tiền bồi thường thiệt hại, do vậy S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra bị cáo có bố là ông Nguyễn Đình X là thương binh, do vậy HĐXX vận dụng cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bản thân có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ giúp bị cáo cải tạo thành công dân tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại là anh Kh yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền là 92.000.000đ. Trong đó có cả số tiền mà bị cáo đã vay anh Kh trước đó nhưng chưa trả. Xét thấy: Đối với số tiền mà anh Kh cho rằng bị cáo S đã vay nợ của anh nhưng chưa trả, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này, nếu có tranh chấp các bên đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

Theo quy định của pháp luật thì người bị hại được bồi thường các khoản chi phí như sau: Tiền viện phí 816.212đ; tiền xe 1.100.000đ; tiền chụp chiếu 800.000đ; tiền ăn hai người trong 5 ngày x 200.000đ/ 1 ngày = 1.000.000đ; Tiền mất thu nhập của người bị hại 5 ngày x 700.000đ/ ngày = 3.500.000đ; tiền mất thu nhập của người chăm sóc 5 ngày x 200.000đ/ 1 ngày = 1.000.000đ; tiền tổn thất về tinh thần: 2.600.000đ. Như vậy tổng số tiền bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là 10.816.212đ. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp số tiền 5.816.212đ. Tại phiên tòa người bị hại nhất trí với mức bồi thường như đã nêu nhưng chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.800.000đ. Bị cáo cũng nhất trí với mức yêu cầu của người bị hại.

Đối với 01 chiếc gậy bằng kim loại bị cáo sử dụng để gây thương tích cho người bị hại, xét giá trị sử dụng không còn nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60; Điều 41; Điều 42 Bộ luật luật hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 99; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự. Xử phạt Nguyễn Đình S 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, G, Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 10.800.000đ. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000đ tại Chi cục thu hành án dân sự huyện Gtheo biên lai thu tiền số AA/20140004015 ngày 14/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 5.800.000đ.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc gậy bằng kim loại màu trắng, dạng gậy rút hình trụ, chiều dài 62,8cm. Một đầu to, một đầu nhỏ. Phía đầu to được bọc xốp màu đen chiều dài 18,8cm, bề mặt có vết rách dạng thẳng dài 15,3cm. Phía đầu nhỏ bị cong biến dạng một phần. Chỗ bị cong cách đầu nhỏ 13,8cm. Gậy cũ đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G.

Bị cáo Nguyễn Đình S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


65
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về