Bản án 99/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 99/2017/HNGĐ-ST NGÀY 26/12/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 234/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự::

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K - sinh năm: 1984

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

* Bị đơn: Ông Trần Văn P - sinh năm: 1985

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:

Bà và ông Trần Văn P tự nguyện kết hôn và đã được ủy ban nhân dân phường N, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 175, quyển số 01/02 ngày 30/9/2004. Quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông P có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà đã can ngăn nhưng ông P không sửa đổi mà còn chửi bới, đánh đập bà nhiều lần. Nay bà không thể chịu đựng thêm được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà và ông P có 02 con chung là Trần Thị L - sinh ngày 18/8/2003 và Trần Văn T - sinh ngày 09/11/2008. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các cháu Trần Thị L - sinh ngày 18/8/2003 và Trần Văn T - sinh ngày 09/11/2008 mỗi tháng 1.000.000 đồng mỗi cháu. Tại phiên tòa, bà thay đổi không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nữa.

Về tài sản chung: Bà và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về thủ tục tố tụng:

 [1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Trần Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn P

[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị K yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết về ly hôn, nuôi con giữa bà và ông Trần Văn P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự .

 [2]. Về nội dung vụ án:

Bà Nguyễn Thị K và ông Trần Văn P tự nguyện kết hôn vào năm 2004 và được Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số175, quyển số 01/02 ngày 30/9/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì không tôn trọng, yêu thương, không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, sống với nhau không có hạnh phúc. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không hàn gắn được. Xét thấy tình trạng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu của bà K được ly hôn ông P là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị K và ông Trần Văn P có có 02 con chung là Trần Thị L - sinh ngày 18/8/2003 và Trần Văn T - sinh ngày 09/11/2008. Bà Nguyễn Thị K yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung.

Xét thấy: Khi cha mẹ ly hôn việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần và phù hợp với nguyện vọng của con. Nguyện vọng của các cháu L, T là muốn sống với mẹ, bà K cũng có đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Do đó, yêu cầu của bà K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T và cháu L là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà K yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các cháu Trần Thị L - sinh ngày 18/8/2003 và Trần Văn T - sinh ngày 09/11/2008 mỗi tháng 1.000.000 đồng mỗi cháu. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị K thay đổi không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nữa. Sự thay đổi yêu cầu của bà K là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà K về việc không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị K. BàNguyễn Thị K được ly hôn ông Trần Văn P.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ki trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Trần Thị L - sinh ngày 18/8/2003 và Trần Văn T - sinh ngày 09/11/2008.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị K về việc không yêu cầu ông Trần Văn P cấp dưỡng nuôi con.

* Vì lợi ích của các con, các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng, nuôi con. Ông Trần Văn P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyếtnên không xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị K đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0011930 ngày 10/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C; như vậy, bà Nguyễn Thị K đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ông Trần Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 99/2017/HNGĐ-ST ngày 26/12/2017 về ly hôn

Số hiệu:99/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 1 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về