Bản án 98/2019/HS-ST ngày 27/08/2019 về tội đánh bạc

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 98/2019/HS-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2019/HSST, ngày 15 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2019/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lữ Đình T, tên gọi khác: Thanh Lữ H, sinh ngày 08/4/1982 tại Đồng Nai.

HKTT: Ấp 2, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 2, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ H (đã chết) và bà Vũ Thị Kim H, sinh năm 1961; vợ: Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1987; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tin án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/9/2001, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ra quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi gây rối. Đã chấp hành xong ngày 26/6/2003.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp 2, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Trần Quốc B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04 tháng 12 năm 1981 tại Quảng Nam.

Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần A, sinh năm 1954 và bà Trần Thị P, sinh năm 1957; Vợ: Trần Thị Y, sinh năm 1985; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tin án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

3. Bùi Văn D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1990 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp 3, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1966 và bà Lê Thị C, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ con.

Tin án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

4. Nguyễn Thị T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1973 tại Hải Dương.

Nơi cư trú: Ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết) ; chồng: Nguyễn Bá N, sinh năm 1968; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tin án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 14 giờ 50 phút ngày 09/04/2019, tại hiên phía sau nhà chị Lê Thị Thu D ở ấp 3, xã T, huyện L, lực lượng Công an huyện L phối hợp Công an xã T bắt giữ quả tang Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T đang đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền. Riêng Lữ Đình T cùng tham gia đánh bạc bỏ chạy thoát, đến ngày 13/04/2019, T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vật chứng thu giữ gồm 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 nắp nhựa màu đen và số tiền 9.700.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Lúc 12 giờ ngày 09/4/2019, Lữ Đình T gặp Huỳnh Vũ Trọng K và Nguyễn Thanh T tại quán cà phê “Không Gian” ở ấp 1, xã B, huyện L. Tại đây, K rủ T lắc tài xỉu được thua bằng tiền, T đồng ý. Sau đó, tất cả đi về hiên phía sau nhà chị D (gia đình chị D không có ai ở nhà) để đánh bạc. Đến nơi, K đưa cho Thanh 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 nắp nhựa màu đen rồi T trực tiếp cầm cái lắc tài xỉu chung chi tiền thắng thua. Hình thức đánh bạc như sau: Do không có tấm bạt nên T quy định bên tay phải của T là “xỉu” còn bên tay trái là “tài”. Nếu lắc 03 hột xúc xắc cộng tổng số điểm từ 03 đến 10 thì gọi là “xỉu”, từ 11 đến 18 điểm thì gọi là “tài”. T mang theo số tiền 5.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, T thua số tiền 4.600.000 đồng còn 400.000 đồng T bỏ xuống chiếu bạc. Trần Quốc B mang theo số tiền 800.000 đồng sử dụng đánh bạc, B thắng được số tiền 1.900.000 đồng. Bùi Văn D mang theo số tiền 5.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, D thua số tiền 2.000.000 đồng còn 3.000.000 đồng D bỏ chạy bị rơi mất. Nguyễn Thị T mang theo số tiền 800.000 đồng sử dụng đánh bạc, T thua hết số tiền 300.000 đồng còn 500.000 đồng T bỏ xuống chiếu bạc. Tổng cộng số tiền dùng để đánh bạc là 9.700.000 đồng (gồm 7.000.000 là tiền thu trên chiếu bạc và 2.700.000 đồng thu trên người Trần Quốc B dùng đánh bạc).

Ti cáo trạng số 99/CT -VKSLT , ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố các bị cáo Lữ Đình T, Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T về tội “ Đánh bạc ” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lữ Đình T mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù; Trần Quốc B, Bùi Văn D , Nguyễn Thị T mỗi bị cáo mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 nắp nhựa màu đen. Đồng thời tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 9.700.000 đồng.

Trong vụ này, các bị cáo còn khai nhận có Nguyễn Phạm Linh P, Huỳnh Vũ Trọng K, Nguyễn Thanh Tâm và người thanh niên tên Quạt (không rõ nhân thân, lai lịch) tham gia đánh bạc nhưng chưa làm việc được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã ra thông báo truy tìm đối tượng tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.

Đi với Lê Thị Thu D không có ở nhà nên không biết các bị cáo sử dụng phía sau nhà của Diễm để đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không khởi tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lữ Đình T khai nhận: Bị cáo uống cà phê cùng Huỳnh Vũ Trọng K và Nguyễn Thanh T tại quán cà phê “Không Gian” ở ấp 1, xã B, huyện L, K rủ bị cáo chơi lắc tài xỉu được thua bằng tiền, bị cáo đồng ý, K đưa cho bị cáo 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 lắp nhựa màu đen, bị cáo là người cầm cái và bị cáo dùng 5000.000đồng để tham gia chơi bạc đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã mô tả.

Bị cáo Trần Quốc B khai nhận: Vào khoảng lúc 13 giờ ngày 09/4/2019, bị cáo đi ngang qua nhà của D thấy phía sau nhà của D có một số người đang đánh bạc gồm D, T, T1 và một số người khác không biết tên, T là người cầm cái và chung chi tiền cho các con bạc, nên bị cáo vào chơi, bị cáo không biết ai là người cầm đầu, tổ chức đánh bạc, bị cáo mang theo số tiền 800.000đồng và dùng số tiền này để tham gia đánh bạc, bị cáo không biết ai là người tổ chức đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang thì bị cáo còn lại 700.000đồng để trên chiếu bạc và 1.900.000đồng là tiền thắng bạc, tổng cộng 2.700.000 đồng đúng như bản cáo trạng đã mô tả.

Bị cáo Bùi Văn D khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 09/4/2019, bị cáo từ nhà đến nhà chị D thấy mọi người đang chơi đánh bạc nên vào tham gia chơi, bị cáo biết có T là người làm cái, T, Q, B, T và P tham gia chơi còn K nằm võng gần sòng bạc, trước đó K có chơi không thì bị cáo không biết, bị cáo không biết ai là người cầm đầu, tổ chức, bị cáo mang theo số tiền 5000.000 đồng và dùng số tiền để đánh bạc, lúc Công an đến thì bị cáo chơi thua 2000.000đồng, số tiền còn lại 3000.000 đồng khi bỏ chạy thì làm rơi mất đúng như bản cáo trạng đã mô tả.

Bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/4/2019, bị cáo nhờ chị Gái nhà ở ấp 3, xã T chở đến nhà D nhưng không có D ở nhà, bị cáo thấy phía sau hiên nhà D có 6-7 người đang đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu nên bị cáo tham gia chơi, trong số những người tham gia đánh bạc, bị cáo biết T là người cầm cái, còn có B, D và 03 thanh niên khác nhưng không biết rõ họ tên, bị cáo không biết ai là người cầm đầu, tổ chức, bị cáo mang theo số tiền 800.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc, đến lúc bị bắt bị cáo thua 300.000 đồng, còn lại 500.000đồng, bị cáo bỏ xuống chiếu bạc đúng như bản cáo trạng đã mô tả.

Li khai của các bị cáo tại phiên tòa cũng như các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lữ Đình T, Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T phạm tội “ Đánh bạc ”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố các bị cáo theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, trực tiếp xâm phạm trật tự cộng cộng.

c bị cáo nhận thức hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu là vi phạm pháp luật nhưng do ham lợi và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong thời gian tại ngoại các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật tốt, không vi phạm gì nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do đó, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, có nhiều người tham gia nhưng là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Bị cáo T là người trực tiếp cầm cái, chung chi cho các con bạc, bị cáo T và D sử dụng số tiền tham gia đánh bạc lớn hơn các bị cáo còn lại nên cần phải xử phạt bị cáo Thanh cao hơn bị cáo D, xử phạt bị cáo D cao hơn các bị cáo còn lại.

Đi với hình phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Số tiền 9.700.000đồng thu được của các bị cáo là tiền sử dụng vào việc đánh bạc, vì vậy tịch thu để sung công qũy nhà nước.

Tch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 nắp nhựa màu đen.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố các bị cáo Lữ Đình T, Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

3. Xử phạt bị cáo Lữ Đình T 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Xử phạt bị cáo Trần Quốc B 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 9.700.000đồng theo biên lai thu tiền số 06783 ngày 11/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Tch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm 03 hột xúc xắc, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 nắp nhựa màu đen (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2019 giữa Công an điều tra huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện L).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

c bị cáo Lữ Đình T, Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo Lữ Đình T, Trần Quốc B, Bùi Văn D và Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2019/HS-ST ngày 27/08/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:98/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về