Bản án 98/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 98/2019/HS-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết P (tên gọi khác: Tý), sinh năm 1985 tại ĐN (có mặt) Nơi cư trú: số A2/67F, khu phố 2, phường TV, thành phố BH, tỉnh ĐN; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:

Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Lịch V, sinh năm 1965 và bà Tống Thị L, sinh năm 1965; Vợ Trương Thanh T, sinh năm 1982, có 01 con sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/11/2017, bị Phòng cảnh sát hình sự công an tỉnh ĐN xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác bằng hình thức phạt tiền; Ngày 17/4/2017, bị Công an Thành phố Biên Hòa tỉnh ĐN xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 01/5/2019 bị cáo đang bị tạm giữ tại Công an huyện Định Quán, tỉnh ĐN về 01 vụ án khác.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 74, Quốc lộ 1A, phường TP, Quận C, TP H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: T4), sinh năm 1979 (đã chết)

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S:

Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1944, bà Nguyễn Kim T1, sinh năm 1950 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN

2/ Ông Đặng Văn T2 (tên gọi khác: T3), sinh năm 1968(vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 5, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 7/2018, Nguyễn Viết P có quen với một người tên Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: T4) và bàn bạc với nhau về việc trộm tổ yến bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 27/4/2019, P nhận được điện T1 của T4 đã tìm được nhà nuôi yến nên đón xe về huyện TP. Đến huyện TP, lúc này khoảng 00 giờ ngày 28/4/2019, T4 đón P và chở P vào nhà nuôi yến ở Ấp 6 xã TC, huyện TP do anh Nguyễn Văn K làm chủ. Tại đây, P đi bộ qua bên hông nhà nuôi yến, dùng tay tháo từng miếng kiếng ra, sau đó dùng mỏ lết bẻ song cửa bên hông nhà rồi vào nhà, nhà yến còn hai lớp cửa nữa mới lên trộm tổ yến được, P dùng xà beng dài 1,07m đường kính 2cm có sẵn tại đây kết hợp với mỏ lết P mang theo dùng 02 ổ khóa cửa để vào trộm yến. Nhà yến có 3 tầng, P trộm tổ yến ở tầng 1 và tầng 3 được 1,08kg . Đến 3 giờ sáng, P điện T1 cho T4 vào chuyển tổ yến trộm cắp ra. Sau khi chuyển tổ yến ra hết, T4 chở P cùng tổ yến trộm cắp được về nhà T4. Đến 06 giờ cùng ngày, T4 điện T1 thuê xe chở P, T4 và tổ yến trộm được đến Quận 5, TP H bán số tổ yến trộm cắp được số tiền 16.300.000đ, số tiền này, T4 và P trả tiền xe 1.500.000đ, còn lại P và T4 chia đôi. P được chia số tiền 7.400.000đ, số tiền này P sử dụng vào tiêu xài cá nhân.

Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL.HĐĐGTS ngày 28/5/2019 và Biên bản định giá tài sản ngày 28/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TP xác định 1,08 kg tổ yến sào chưa sơ chế ở khu vực huyện TP có giá là 24.840.000đ.

Theo cáo trạng số 102/CT-VKSTP-ĐN ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Viết P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn K yêu cầu bị cáo P phải bồi thường số tiền 24.840.000đ tương đương với giá trị tổ yến bị mất.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Ngày 28/4/2019 Nguyễn Viết P có hành vi lén lút trộm cắp 1,08 kg tổ yến sào trị giá 24.840.000đ của anh Nguyễn Văn K. Như vậy, hành vi của P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo P là người có nhân thân xấu, bị Phòng cảnh sát hình sự công an tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác bằng hình thức phạt tiền; bị Công an Thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản và đang bị Công an huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai khởi tố, áp dụng biện pháp tạm giam về tội trộm cắp tài sản trong 01 vụ án khác.

Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo 01 mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với mỏ lết Nguyễn Viết P dùng làm P tiện phạm tội khi P thực hiện hành vi trộm cắp trên địa bàn huyện Định Quán đã bị công an huyện Định Quán bắt quả tang và thu giữ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với cây xà beng dài 1,07m đường kính 2cm là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn K, nên đã được trao trả cho anh K là phù hợp với quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo P đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 24.840.000đ tương đương với giá trị tổ yến bị mất cho anh Nguyễn Văn K.

[7] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T4, qua xác minh tại địa P, T4 có họ tên là Nguyễn Thanh S, sinh năm 1979, ngụ Ấp 5 xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, S không có mặt tại địa P, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, hiện ngoài lời khai của Nguyễn Viết P thì không có chứng cứ nào khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh S. Ngày 06/10/2019 S đã chết vì treo cổ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Định Quán. Do vậy Tòa án đưa ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Kim T1 là người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của S.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.242.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết P (tên gọi khác: Tý) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết P 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Áp dụng: Các Điều 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Viết P đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền 24.840.000đ(Hai mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) cho ông Nguyễn Văn K.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về án phí: Bị cáo P phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.242.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 1.442.000đ (Một triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Ngưi được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo P biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông K, ông T2, ông L1, bà T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


19
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về