Bản án 98/2017/HSST ngày 15/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH - TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 98/2017/HSST NGÀY 15/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15/12/2017, tại trụ sở TAND huyện Gia Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2017/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2017/HSST- QĐ ngày 01/12/2017, đối với bị cáo:

Lê Tuấn H, sinh năm 1975; trú tại: thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Tuấn T, sinh năm 1938 và bà Nguyễn Thị V, đã chết; có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1978 và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: có 01 tiền án: Bản án số 48/2014/HSST ngày 19/06/2014 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/12/2015; đã nộp tiền án phí ngày 11/09/2014; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 24/9/2017, Lê Tuấn H đi bộ một mình từ nhà đến nhà anh Trần Văn C, sinh năm 1966 ở thôn P, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Tại nhà anh C, H đã mua của anh C cho một gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cầm lấy ở tay trái rồi đi về nhà để tìm nơi sử dụng. Trên đường về, khi đang đi bộ trên đường làng thôn H, thị trấn G thì bị tổ công tác Công an huyện Gia Bình phối hợp Công an thị trấn Gia Bình, phát hiện và bắt quả tang. H tự giác giao nộp 01 (một) gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng từ tay trái H đang cầm. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác không thu giữ gì khác.

Tại bản Kết luận giám định số 1106/KLGĐ-PC54, ngày 24/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột mầu trắng trong 01 (một) gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng có trọng lượng 0,0896 gam; Là ma túy; Loại ma tuý: chất Heroine.

Bản Cáo trạng số 94/CTr-VKS ngày 20/11/2017 của VKSND huyện Gia Bình đã truy tố Lê Tuấn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ 0,0896 gam ma túy, loại ma túy: chất Heroine, mục đích là để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo; nhất trí với kết luận của cơ quan chuyên môn về trọng lượng, chất ma túy và thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải.

Đại diện VKSND huyện Gia Bình thực hành quyền công tố tại phiên toà công bố bản luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 33 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn H từ 18 – 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Áp dụng: Điều 41 của BLHS, Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: Số ma túy là mẫu vật còn lại sau giám định.

Sau khi nghe bản luận tội của VKSND huyện Gia Bình, bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản luận tội đã nêu.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với với biên bản phạm pháp quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ được, kết luận giám định, và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp. Do vậy, đủ cơ sở để kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 24/09/2017 tại khu vực đường làng thôn H, thị trấn G, huyện G, Lê Tuấn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,0896 gam ma túy, loại ma túy: chất Heroine tại tay trái, mục đích là để sử dụng cho thân. Mặc dù lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ dưới 0,1 gam Hêrôin nhưng tại thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã có một tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên theo quy định Điểm a, tiểu mục 3.7; điểm b, tiểu mục 3.6 Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 “Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 trên đây, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 BLHS.” hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS, đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ, đó là quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây truyền bệnh tật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo có một tiền án nhưng tình tiết này đã là yếu tố định tội nên không được coi là tình tiết tăng nặng theo quy định tại Khoản 2 Điều 48 BLHS. Do vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 của BLHS. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù thấp hơn khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 nên căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 cần áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, bản thân mắc nghiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Trần Văn C là người bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 24/9/2017. Tuy nhiên, quá trình làm việc và đối chất, C không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo, bị cáo cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên chưa có đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 33 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015; Điều 228 của BLTTHS.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn H 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo: ngày 24/9/2017.

Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.

- Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của BLHS năm 1999, Điều 76 của BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm KLGĐ số 1106- KLGĐ/ PC54 ghi ngày 24/9/2017 của PC54. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/11/2017.

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 của BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Tuấn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về