Bản án 96/2019/HS-ST ngày 16/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 96/2019/HS-ST NGÀY 16/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 87/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Thị N, sinh ngày: 08/8/1988 tại xã T, huyện D tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:09/12; Con ôngHoàng Văn Q, sinh năm 1964 và bà Lương Thị H, sinh năm 1968; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con đầu; Có chồng: Phạm Văn M, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và hai con, con lớn sinh năm 2010 con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 21/3/2019, Hoàng Thị N bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Thái Bình khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 10/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thái Bình tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù tại bản án số 57/2019/HSST.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2019. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trần Thị H, sinh năm 1980. Vắng mặt

Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 02/5/2019, Hoàng Thị N đi taxi từ nhà nghỉ “TL” tại xóm A, xã T, huyện D, tỉnh Nghệ An đến chợ P ở xã T, huyện Diễn Châu nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến chợ N dặn người tài xế taxi chờ bên ngoài, còn mình thì đi bộ vào trong chợ đến quán bán rau củ của chị Nguyễn Thị T mua 02 (hai) quả dứa. Trong lúc chờ chị T gọt dứa, Ngọc đến quán bán hải sản ở chợ P của chị Trần Thị H hỏi mua cá mực. Trong lúc hỏi mua hàng, N phát hiện túi xách của chị H để trên ghế không kéo khóa, lợi dụng sơ hở lúc chị H không để ý, N dùng tay lấy trộm chiếc ví da màu đen trong túi xách của chị H rồi kẹp vào chiếc ví của N đang cầm trên tay rồi rời khỏi quán. N quay lại quán chị T lấy 02 quả dứa rồi đi thẳng ra cổng chợ lên xe taxi đang chờ lúc nãy để về nhà nghỉ TL. Trên đường về nhà nghỉ, N mở ví vừa trộm cắp được của chị H lấy toàn bộ số tiền bỏ sang ví của mình, đồng thời vứt chiếc ví của chị H ra bên đường. Khi về đến nhà nghỉ “TL”, Ngọc xuống xe đi vào phòng số 01 mà N đã thuê trước đó, N lấy số tiền vừa trộm cắp đếm được 18.200.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm nghìn đồng), đồng thời N lấy số tiền riêng trong ví của mình là 5.800.000đ (Năm triệu tám trăm nghìn đồng) xếp chung với số tiền vừa trộm cắp được xếp thành 02 (hai) xấp cột dây chun rồi bỏ vào trong ví của mình. Khoảng 10 phút sau, chị H phát hiện mình bị mất tài sản nên đã tri hô thông báo cho những người xung quanh. Do nghi ngờ chị N là người có biểu hiện trộm cắp tài sản, chị T đã cùng chị H đến nhà nghỉ “TL” (trước đó N có đến quán chị T mua hàng nên chị T biết địa chỉ nơi N ở) tìm Ngọc xin lại số tiền bị mất. Tuy nhiên N không thừa nhận hành vi của mình. Sau đó, chị H đến cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu trình báo nội dung sự việc. Sau khi nhận được tin tố giác của chị H, Công an huyện Diễn Châu cử tổ công tác đến nhà nghỉ “TL” điều tra, xác minh sự việc. Tại đây, Công an huyện Diễn Châu đã tiến hành kiểm tra, trích xuất camera tại nhà nghỉ “TL” phát hiện hình ảnh Hoàng Thị N mở ví ném tiền từ trong ví của mình vào bụi cây ngũ gia bì trước cổng nhà nghỉ. Tổ công tác Công an huyện Diễn Châu đã phối hợp với Công an xã T kiểm tra, thu giữ số tiền 24.000.000 (hai mươi tư triệu đồng), đồng thời đưa N về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T làm việc. Qua đấu tranh, Hoàng Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu thu thập được .

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng VKS truy tố. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện VKS.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện Diễn Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, §iều 51. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) đĩa DVD được niêm phong đúng quy định ghi nhận hình ảnh Hoàng Thị N có hành vi giấu tiền ở cổng nhà nghỉ TL ngày 02/5/2019 lưu vào hồ sơ vụ án.

- Tiền Việt Nam đồng: 24.000.000đ( hai mươi tư triệu đồng).

Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại chị Trần Thị H số tiền 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).Trả lại cho Hoàng Thị N số tiền 5.800.000 đồng (Năm triệu tám trăm nghìn đồng).

- Đối với chiếc ví da màu đen của chị Trần Thị H, sau khi lấy được tiền, N đã vứt sang bên đường. Theo lời khai của Ngọc, CQĐT Công an huyện Diễn Châu đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng do không xác định được vị trí cụ thể nên không thu hồi được.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bÞ h¹i, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Như vây, đã đủ căn cứ để khẳng định Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/5/2019, tại khu vực chợ P thuộc xóm A, xã T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Hoàng Thị N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Trần Thị H, chiếm đoạt số tiền 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).

[3]. Xét tính chất của hành vi bị cáo:Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo trong thời gian tại ngoại chờ Tòa án nhân dân huyện T tỉnh Thái Bình xét xử về tội trộm cắp tài sản không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải đưa ra một mức án nghiêm đối với bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo N ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.

[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015 người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Hội đồng xét xử xét căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ và lời khai tại phiên tòa bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án. Xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

[7]. Về vật chứng vụ án: Đã trả lại cho bị hại.

[8]. Về án phí: Buộc bị cáo N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Bị cáo, bị hạicó quyền kháng cáo trong thời gian quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt Bị cáo Hoàng Thị N 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/5/2019.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 96/2019/HS-ST ngày 16/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:96/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về