Bản án 96/2019/HS-PT ngày 04/10/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 96/2019/HS-PT NGÀY 04/10/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh A.G, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Phan Thanh H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo H, Tuyết M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2019/HS-ST ngày 16/07/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L.X, tỉnh A.G.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Phan Thanh H, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số 43, tổ 23, khóm 8, phường Châu Phú A, thành phố C. Đ, tỉnh A.G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không: Nghề nghiệp: Kinh doanh xe khách; Trình độ học vấn: Lớp 01/12; Cha: Phan Thành T (chết); Mẹ: Nguyễn Thị Ẩ, sinh năm 1937; Vợ: Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1972 (là bị cáo trong vụ án); Có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009.

Ngày 21/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố L.X, tỉnh A.G xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Vận chuyển hàng cấm”, đã chấp hành xong hình phạt.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/10/2018 đến nay.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Thị Tuyết M (X), sinh năm 1972; Giới tính; Nữ: Nơi cư trú: số 43, tổ 23, khóm 8, phường Châu Phú A, thành phố C. Đ, tỉnh A.G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Kinh doanh xe khách; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Cha: Võ Văn N (chết); Mẹ: Võ Thị S (chết); Chồng: Phan Thanh H, sinh năm 1973 (là bị cáo trong vụ án); Có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009;

Ngày 03/6/2010, bị Công an quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Kinh doanh hàng cấm”, đã nộp phạt vào ngày 22 tháng 6 năm 2010.

Ngày 09/4/2012, bị Công an quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi “Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, đã nộp phạt vào ngày 09/4/2012.

Ngày 24/02/2014, bị Công an tỉnh A.G xử phạt hành chính 16.500.000 đồng, về hành vi “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, đã nộp phạt vào ngày 14/4/2014;

Ngày 08/9/2015, bị Ủy ban nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính 35.000.000 đồng, về hành vi “Kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, đã nộp phạt vào ngày 07/10/2015.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/10/2018 cho đến nay.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án còn có bị cáo Bùi Văn H1, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H1 có đơn kháng cáo, sau đó bị cáo đã có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Tòa án đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Bùi Văn H1).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 01 giờ 20 phút, ngày 15 tháng 10 năm 2018, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, chức vụ phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh A.G kiểm tra hành chính xe ô tô khách loại 16 chỗ, biển số 67B-003.08 do Bùi Văn H1 điều khiển trên Quốc lộ 91, đoạn đường thuộc phường Mỹ Thới, thành phố L.X. Lúc này, trên xe có Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M ngồi ở hàng ghế liền phía sau lái xe; Trần Quang Liêm ngồi ở ghế bên phải của lái xe. Qua kiểm tra phát hiện trên các dãy ghế, trong đó có ghế bên cạnh M và dưới gầm ghế có 28 túi nilon, 02 giỏ xách đựng 7.160 bao thuốc lá điếu nhập lậu các hiệu Jet, Hero, Scott nên Công an lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố L.X, tỉnh A.G, quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M, Bùi Văn H1, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

n cứ điểm b khoản 3 điều 191, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt:

1. Bị cáo Phan Thanh H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

2. Bị cáo Võ Thị Tuyết M 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

3. Bị cáo Bùi Văn H1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

Ngoài ra, án sơ thẩm xử còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/7/2019, các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M, Bùi Văn H1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 19/8/2019, bị cáo Bùi Văn H1 có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, với lý do: Hoàn cảnh gia đình khó khăn; con nhỏ không ai chăm sóc và đang điều trị bệnh.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu kháng của bị cáo Võ Thị Tuyết M, có thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Phan Thành H, Võ Thị Tuyết M khai nhận, các bị cáo có thuê Bùi Văn H1 lái xe ô tô khách loại 16 chỗ, biển số 67B- 003.08 vận chuyển 7.160 bao thuốc lá điếu nhập lậu các hiệu Hero, Jet và Scott thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M, về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Phan Thanh H, Võ Thị Tuyết M đều là những người có nhân thân xấu; bị cáo H đã từng bị xử phạt tù về tội “Vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”, mặc dù đã được xóa án tích; bị cáo M nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Kinh doanh hàng cấm và vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”. Lẽ ra, các bị cáo có nghề nghiệp ổn định là kinh doanh xe khách, phải thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ không thực hiện nữa, sống một cuộc sống lao động chân chính tạo ra của cải vật chất giúp ích cho gia đình và xã hội. Nhưng các bị cáo không làm được điều đó, mà chỉ vì hám lợi các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật, cố ý tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển 7.160 bao thuốc lá điếu nhập lậu các hiệu Hero, Jet và Scott thì bị phát hiện bắt giữ quả tang.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý kinh tế Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh và lưu thông hàng hóa. Do đó, cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng đắn, toàn diện tính chất, mức độ, hành vi vai trò phạm tội của từng bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo Phan Thanh H 05 năm 6 tháng tù; bị cáo Võ Thị Tuyết M 04 năm 03 tháng tù là phù hợp, thỏa đáng. Lẽ ra, cần giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm tuyên phạt đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa bị cáo M đã thành khẩn khai nhận tội, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn; giữa bị cáo M và bị cáo H là quan hệ vợ chồng, ít nhiều cũng có cuộc sống lệ thuộc khi thực hiện hành vi phạm tội; có 02 con đang tuổi cắp sách đến trường không ai chăm sóc. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo M, có thể giảm nhẹ cho bị cáo M một phần hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H như Viện kiểm sát đề nghị.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Võ Thị Tuyết M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Thị Tuyết M xin giảm nhẹ hình phạt.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H xin giảm nhẹ hình phạt.

Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; (Bị cáo M được áp dụng thêm Điều 54) Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt:

1. Bị cáo Phan Thanh H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

2. Bị cáo Võ Thị Tuyết M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2018.

Bị cáo Phan Thanh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 96/2019/HS-PT ngày 04/10/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:96/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/10/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về