Bản án 95/2019/HS-ST ngày 27/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 95/2019/HS-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Vào ngày 27 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Quang Đ, sinh năm 1992 tại Quảng Bình; nơi đăng ký thường trú: phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Xuân C, sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần Giao nhận hàng không A, trụ sở: xã E, huyện F, Tp. Hà Nội.

Ngưi đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1980, nơi cư trú: phường C, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 21/12/2018, anh Trương Thành N cùng với tài xế tên Hà Xuân T nhận hàng tại công ty Cổ phần Giao nhận hàng không A và sử dụng xe ô tô tải biển số 29C-907.99 để đi giao hàng. Đến 07 giờ 20 phút cùng ngày, anh T điều khiển xe ô tô trên đỗ bên hông nhà số 03 Nguyễn Cảnh D, Phường G, quận H để uống cà phê tại quán cà phê Mộc, cách chỗ đỗ xe 50 mét. Trước khi đi, anh T và N có kiểm tra lại ổ khóa trên cánh cửa phía sau xe ô tô. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, anh T và N ra xe ô tô thì phát hiện ổ khóa trên cánh cửa phía sau xe ô tô có dấu hiệu bị mở. Kiểm tra bên trong xe ô tô phát hiện mất 01 kiện hàng trong thùng xe gồm 25 điện thoại các loại và 01 ống kính, 01 máy ảnh Canon. Cả hai đã trình báo công an.

Đi diện theo ủy quyền của công ty A là ông Nguyễn Văn L liên hệ với chủ nhà số 1/5 Nguyễn Cảnh D kiểm tra dữ liệu camera ghi nhận được vào thời điểm bị mất trộm tài sản, có một người thanh niên mặc áo trắng, quần xanh đen, mang dép màu đỏ, đi xe Wave màu đen đứng phía sau xe ô tô biển số 29C- 907.99 rồi quay xe chạy đi. Qua hình ảnh nhận dạng thanh niên này giống với Trần Quang Đ (là nhân viên của công ty A, hiện đang bị tạm đình chỉ công tác theo quyết định số 460 ngày 20/12/2018) nên đã yêu cầu Đ và gia đình đến công ty làm việc. Đồng thời, đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, ông L đến Công an Phường 4, quận Tân Bình trình báo.

Quá trình điều tra, Trần Quang Đ đã thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt kiện hàng của công ty và khai nhận:

Khong 07 giờ 05 phút ngày 21/12/2018, Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Wave, biển số 59G1-183.76 đến quán cà phê trên đường Nguyễn Văn V, Phường G, quận H. Khi đến số 1/5 Nguyễn Cảnh D thì nhìn thấy xe ô tô biển số 29C-907.99 đang dựng bên đường, cửa xe có khóa nhưng cánh cửa bị hở. Đ biết đây là xe chở hàng của công ty A nên điều khiển xe chạy đến, dùng tay đóng mạnh cửa xe lại rồi tiếp tục chạy xe đến quán cà phê. Trên đường đi, do cần tiền trả nợ nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt hàng hóa trên xe ô tô trên. Đ liền điều khiển xe máy quay lại, dùng tay vặn mở được ốc trên khoen cửa làm cánh cửa phía sau xe ô tô mở ra. Đ bước vào thùng xe, lấy 01 thùng giấy cacton có kích thước khoảng 50 x 50 x 50cm rồi mang xuống để trên xe máy, đóng lại cánh cửa xe, gắn ốc khóa lại như hiện trạng ban đầu. Sau đó, Đ chở kiện hàng đến số 08 Nguyễn Văn V, mở thùng hàng ra kiểm tra thấy bên trong có nhiều điện thoại di động (được niêm phong trong các hộp, không xác định số lượng) và 01 thùng cacton nhỏ kích thước 50 x 25 cm. Đ tiếp tục mang thùng hàng đến quán cà phê tại số 02 Nguyễn Trọng L, bỏ hết điện thoại vào thùng cacton nhỏ, vất bỏ thùng cacton lớn rồi gọi điện thoại cho em trai tên Trần Xuân V đến chở về nhà. Khi V đang chở thùng hàng về thì Đ lại gọi điện mang đi nơi khác gửi giùm. Vmang thùng hàng đến nhà bạn gái là La Mộng T tại số 67/3 Trung Mỹ T 12, phường A1, Quận B để ở góc phòng trọ và gọi báo T là Vđể nhờ đồ trong phòng.

Khi công ty A yêu cầu đến làm việc, Đ cùng gia đình đến trụ sở công ty nhưng không thừa nhận hành vi chiếm đoạt kiện hàng trên. Đến ngày 22/12/2018, tại cơ quan công an, Đ mới thừa nhận hành vi trộm cắp nêu trên và yêu cầu V lấy lại kiện hàng giao nộp cho công an. Kiểm tra tài sản bên trong kiện hàng có 25 điện thoại di động các loại, 01 ống kính và 01 máy ảnh hiệu Canon. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả: ổ khóa và cánh cửa phía sau xe ô tô biển số 29C-907.99 không có dấu hiệu vết cạy phá mới nhưng ốc khóa trên khoen cửa bị lờn, có thể mở bằng tay.

Tiến hành cho Trần Quang Đ thực nghiệm lại hành vi phạm tội, kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của Đ và các chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Kết quả cho Trần Quang Đ, Trần Xuân V và bà Nguyễn Thị N (mẹ của Đ) ghi nhận dữ liệu camera phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội của Đ.

Đi với Trần Xuân Vkhai không biết nguồn gốc kiện hàng Đ giao, trước đây V từng giúp Đ giao hàng cho khách hàng nên nghĩ đây là hàng hóa Đ gửi để đi giao cho khách hàng. Do đó, không có căn cứ xác định V với vai trò đồng phạm.

Đi với La Mộng T, T không biết kiện hàng V gửi để nhờ là do Đ phạm tội mà có. Do đó, không có cơ sở khởi tố T về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Vt chứng vụ án:

- Thu giữ của Trần Quang Đ: 01 nón bảo hiểm, 01 áo thun, 01 quần tây, 01 đối dép (Đ sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội), 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám, 01 xe gắn máy hiệu Wave màu đen biển số 59G1- 183.76 (chủ xe là Trần Quang Đ).

- 04 USB chứa dữ liệu hành vi phạm tội của bị cáo.

- 01 ổ khóa màu đen trắng và 01 chìa khóa màu trắng hiệu Việt – Tiệp.

- Tài sản bị chiếm đoạt:

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7 (2018) 4GB/64GB màu vàng, trị giá 6.325.000 đồng.

+ 06 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime G532 8GB, trị giá 1.765.000 đồng/cái x 6 = 10.590.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 plus 2018-A605G màu đen trị giá 5.990.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 plus 4GB/64GB titan màu bạc trị giá 9.948.000 đồng.

+ 04 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 Pro 2017 màu đen, trị giá 2.519.000 đồng x 4 = 10.076.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8 3GB/32GB màu vàng trị giá 4.262.000 đồng.

+ 03 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6+ 3GB/32GB trị giá 3.675.000 đồng x 3 = 11.025. 000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 6GB/64GB màu tím trị giá 12.420.000 đồng. + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 9 128 GB màu đen trị giá 16.000.000 đồng.

+ 02 điện thoại di động hiệu Nokia tai thỏ 2018 32GB Ram 3GB màu đen trị giá 3.120.000 đồng/cái x 2 = 6.240.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Xiomi Redmi Note 5 Pro 64GB màu đen trị giá 3.925.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Xiomi Mi Pad 4 32GB Ram 3GB màu đen trị giá 3.690.000 đồng.

+ 01 điện thoại bàn không dây hiệu Uniden AT4101 màu trắng xanh trị giá 499.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Apple XS 64 GB màu vàng trị giá 23.712.000 đồng.

+ 01 ống kính hiệu Canon EF – S55 – 250mm F4 – 5.6 IS STM trị giá 3.670.000 đồng.

+ 01 máy ảnh hiệu Canon G7X Mark II màu đen trị giá 11.190.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Trần Quang Đ chiếm đoạt là 139.562.000 đồng. Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Trần Quang Đ.

Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 24 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Quang Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Quang Đ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, hình ảnh camera ghi nhận lại sự việc, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quang Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 kiện hàng bên trong có 25 điện thoại di động các loại, 01 ống kính và 01 máy ảnh hiệu Canon của Công ty Cổ phần giao nhận hàng không A, tổng trị giá tài sản là 139.562.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hi đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đang có công việc làm ổn định và trong thời gian được tại ngoại không có vi phạm pháp luật, nghĩ không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và cũng thể hiện tính nhân Đ của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tang vật vụ án:

- 01 nón bảo hiểm, 01 áo thun, 01 quần tây, 01 đối dép và 01 ổ khóa màu đen trắng và 01 chìa khóa màu trắng hiệu Việt – Tiệp là những vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám, 01 xe gắn máy hiệu Wave màu đen biển số 59G1-183.76 thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng điện thoại và xe vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 04 USB chứa dữ liệu hành vi phạm tội của bị cáo là chứng cứ của vụ án và có thể lưu giữ được nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Trần Quang Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 USB màu xanh hiệu Transand 4GB, 01 USB màu trắng, 01 USB màu đỏ hiệu Kingston và 01 USB màu đỏ đen hiệu Cruzer 8GB.

Tch thu và tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm hiệu Andes màu đen sọc đỏ, 01 áo thun trắng, 01 quần tây màu đen, 01 đối dép nhựa màu đỏ, 01 ổ khóa màu đen trắng hiệu Việt – Tiệp và 01 chìa khóa màu trắng hiệu Việt – Tiệp.

Tch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám, số imeil: 354392060592402 và 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đen biển số 59G1-183.76, số khung: BY-632461, số máy: JC43E- 6212200.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 136/PNK ngày 17/7/2019 của Công an quận Tân Bình).

[4] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Đã giải thích chế định án treo.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 95/2019/HS-ST ngày 27/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:95/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về