Bản án 95/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 95/2019/HS-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Đào Phương B (S), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1983, tại huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Minh T và bà Võ Thị K; chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị Kim Q; có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/6/2003, bị Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành hình phạt tù tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến gày 03/12/2003 chấp hành xong (đã được xoá án tích). Ngày 09/7/2008, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành án tại trại giam X, tỉnh Đồng Nai đến ngày 31/8/2012 chấp hành xong, nộp án phí ngày 05/8/2009 (đã được xoá án tích); bị tạm giữ ngày 29/8/2019, chuyển tạm giam ngày 07/9/2019; (có mặt).

- Bị hại: Bà Phạm Thị T, sinh năm1975; nơi cư trú: Ấp X, xã P, huyện C, thanh phố Hồ Chí Minh; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lê Quang Bá T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).

2. Chị Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, Đào Phương B đi đến khu vực lò gạch M thuộc ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì nhìn thấy xe ôtô tải biển số 51D-213.84 của bà Phạm Thị T đang đỗ tại kho chứa gạch, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, B đi bộ từ nhà đến lò gạch M, lén lút nổ máy xe, điều khiển đến khu vực Cửa khẩu H, tỉnh Bình Phước thì xe bị sa lầy nên B bỏ lại xe và đi xe buýt trở về nhà. Bà Phạm Thị Thành sau khi biết xe bị mất trộm đã bật định vị tìm thấy xe đang ở khu vực gần cửa khẩu H nên trình báo Công an. Đến ngày 29/8/2019, B bị Công an huyện T bắt giữ. Quá trình điều tra, Đào Phương B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG ngày 25/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe ôtô nhãn hiệu VEAM, loại xe tải có mui, tải trọng 7940 kg, biển số 51D-213.84, số máy D4DBHJ647611, số khung B179HML02467 trị giá 480.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- 01 USB màu trắng, dung lượng 8GB có nội dung hình ảnh Đào Phương B điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-213.84 tại trạm thu phí số 02 thuộc xã Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; (Lưu hồ sơ vụ án).

- 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu VEAM, loại xe tải có mui, màu sơn xanh, tải trọng 7940kg, biển số 51D-213.84, số máy D4DBHJ647611, số khung B179HML02467; (Bà Phạm Thị T đã nhận lại ngày 25/6/2019);

- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định phương tiện biển đăng ký 51D- 213.84; (Bà Phạm Thị T đã nhận lại ngày 25/6/2019);

- 01 (một) lệnh vận chuyển điều động xe số: 51D-213.84; (Bà Phạm Thị T đã nhận lại ngày 25/6/2019);

- 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô biển số 51D-213.84; (Bà Phạm Thị T đã nhận lại ngày 25/6/2019);

- 01 điện thoại Nokia 215, màu đen, số sim 0906933444. (Chị Nguyễn Thị Kim Q đã nhận lại ngày 31/10/2019);

Về dân sự: Bị hại Phạm Thị T sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bồi thường về phần dân sự.

Tại Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Đào Phương B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo B từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B.

Tại phiên tòa bị cáo B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng ý với kết luận định giá tài sản và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đào Phương B thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, sau khi nhìn thấy xe ôtô tải biển số 51D-213.84 của bà Phạm Thị T đỗ tại khu khu vực lò gạch thuộc ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh, trên xe có cắm sẵn chìa khoá, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp xe và điểu khiển xe đến khu vực cửa khẩu H, tỉnh Bình Phước nhưng xe bị sa lầy nên bị cáo bỏ xe lại và đi xe buýt về nhà.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như lời khai tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cái tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nhưng cho rằng mục đích trộm xe để mang đi bỏ nơi khác, không nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài và khi lấy xe có người trong lò gạch nhìn thấy. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo lợi dụng lúc xe ô tô tải không có ai trông coi, lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị T là xe ô tô tải biển số 51D-213.84 trị giá 480.000.000 đồng (theo Bản kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG ngày 25/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản).

Do đó, có đủ cơ sở để xác định hành vi của bị cáo B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, không chỉ để cải tạo, giáo dục bị cáo mà còn răn đe những người khác, ngăn ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án nhưng có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Mua bán trái phép chất ma tuý” đã được xóa án tích. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, ăn năn hối cải, bị cáo có cha mẹ là người có công với Cách mạng nên Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đi với: 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu VEAM, loại xe tải có mui, màu sơn xanh, tải trọng 7940kg, biển số 51D-213.84, số máy D4DBHJ647611, số khung B179HML02467; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định phương tiện biển đăng ký 51D-213.84; 01 (một) lệnh vận chuyển điều động xe số: 51D-213.84;

01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô biển số 51D-213.84 cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị T là phù hợp. Bà T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Đi với 01 điện thoại Nokia 215, màu đen, số sim 0906933444 cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim Q là phù hợp, chị Q đã nhận lại tài sản.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đào Phương B (S) 08 (tám) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2019.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ghi nhận bà Phạm Thị T, chị Nguyễn Thị Kim Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 95/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:95/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về