Bản án 95/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 95/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1991; (xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp LP, xã LM, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Phan Phước V, sinh năm 1990; (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2B, thị trấn BN, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 30/5/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Bùi Thị P trình bày: Chị và anh Phan Phước V kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vào ngày 14/02/2011. Anh chị chung sống đến cuối năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh chị không tìm được tiếng nói chung khiến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, anh chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Do nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Phước V. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Phan Thị Khánh Băng (nữ) sinh ngày 22/7/2009. Hiện nay cháu Băng đang sống với anh V. Chị đồng ý để anh V tiếp tục nuôi dưỡng cháu Băng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng bị đơn anh Phan Phước V không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Cha ruột anh V là ông Phan Phước Lợi xác định anh V đi làm sáng đi tối về nhà và cam kết nhận thay và chuyển ngay các thông báo, giấy tờ khác của Tòa án và chuyển tận tay ngay cho anh V nhưng anh V vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; đối với bị đơn anh Phan Phước V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng không chấp hành quy định về thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luât.

Về việc giải quyết vụ án: Giữa chị P và anh V phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đã ly thân từ năm 2012 đến nay, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh V nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị P được ly hôn với anh V; về con chung đề nghị giao cháu Phan Thị Khánh Băng (nữ) sinh ngày 22/7/2009 cho anh V nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Băng, do chưa ghi nhận được lời khai anh V nên đề nghị tách yêu cầu cấp dưỡng nuôi con giải quyết thành vụ án khác nếu anh V có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung chị P xác định không có nhưng chưa ghi nhận được lời khai của anh V nên đề nghị tách ra chưa giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác; Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đề nghị buộc chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Bùi Thị P và anh Phan Phước V do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh V. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

[2] Xét thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị P có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phan Phước V đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử hai lần những vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị P và anh V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bảy Ngàn. Do cuộc sống có nhiều mâu thuẫn nên chị P yêu cầu ly hôn với anh V; chị P và anh V đã ly thân từ năm 2012 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm quan hệ hôn nhân, chị P có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải cho thấy hôn nhân giữa chị P và anh V đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận cho chị P ly hôn với anh V.

[4] Xét về con chung: Chị P và anh V có 01 con chung là Phan Thị Khánh Băng (nữ) sinh ngày 22/7/2009. Hiện nay cháu Băng đang sống ổn định với anh V, chị P cũng đồng ý để anh V nuôi dưỡng con chung và nguyện vọng của cháu Băng cũng muốn được sống chung với anh V. Để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu Băng nên Hội đồng xét xử giao cháu Phan Thị Khánh Băng cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chưa có ý kiến của anh V nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh V nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết thành vụ án khác khi anh V có đơn yêu cầu.

[5] Xét tài sản chung và nợ chung: Chị P khai không có nhưng chưa có ý kiến của anh V nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh V, Hội đồng xét xử chưa giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.

[6] Xét về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Bùi Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Phan Phước V.

2. Về con chung: Anh Phan Phước V được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phan Thị Khánh Băng (nữ) sinh ngày 22/7/2009. Tách yêu cầu cấp dưỡng nuôi con ra giải quyết thành vụ án khác khi anh V có đơn yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Bùi Thị P không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Bùi Thị P phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị Bùi Thị P đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018904 ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (chị P đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

210
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 95/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:95/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 19/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về