Bản án 95/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 95/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/08/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm canh khai vụ án thụ lý số: 264/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Bích H, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Tổ 2, ấp Kinh Mới, xã Mỹ Thuận, huyện B, tỉnh V.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Tổ 2, ấp Kinh Mới, xã Mỹ Thuận, B, tỉnh V.

(Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình, Địa chỉ: ấp 4, xã Châu Bình, huyện G, tỉnh B).

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 15/7/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kim Bích H trình bày:

Chị và bị đơn là anh Huỳnh Thanh T chung sống với nhau vào năm 2002, trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 03/9/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu, vợ chồng cùng chung sống với nhau hạnh phúc và có con chung. Ngày 21/3/2017, anh T bị bắt và phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam Châu Bình vàvợ chồng cũng đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị có yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị vàanh T có 01 con chung là Huỳnh Thị Trúc Ly, sinh ngày 19/3/2001 hiện cháu Trúc Ly đã trưởng thành, đủ 18 tuổi và tự lao động sinh sống được.

Về tài sản chung và nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của anh Huỳnh Thanh T, anh Huỳnh Thanh T trình bày:

Anh và chị H sống chung vào năm 2002 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống cóhạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì anh bị bắt chấp hành án phạt tù nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đó, không có thời gian đoàn tụ. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn thương yêu với nhau nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Huỳnh Thị Trúc Ly, sinh ngày 19/3/2001 hiện cháu Trúc Ly đã trưởng thành, đủ 18 tuổi và tự lao động sinh sống được.

Về tài sản chung vànợ chung: không có, anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T cóyêu cầu xin xét xử vắng mặt vì anh đang phải chấp hành án nên không thể tham gia giải quyết vụ án xin ly hôn được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu cótrong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Anh Huỳnh Thanh T làbị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Bích H và anh Huỳnh Thanh T chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 03/9/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên quan hệ hôn nhân của anh chị được coi là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hạnh phúc đến 21/3/2017 thìvợ chồng sống ly thân. Nguyên nhân là do anh T phải chấp hành án phạt tù, tình cảm anh T và chị H dần dần phai nhạt và cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy anh T và chị H đã sống ly thân với nhau, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, anh chị không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ như chồng. Do chị H không còn tình cảm vợ chồng với anh T nữa nên chị có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng khanh thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh T cũng không còn tình cảm với chị H và không đồng ý đoàn tụ với chị H, anh đồng ý thuận tình ly hôn với chị H. Do đó Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H vàanh T là phù hợp.

- Về con chung: Trong quátrình chung sống chị H và anh T có 01 con chung là Huỳnh Thị Trúc Ly, sinh ngày 19/3/2001 hiện cháu Trúc Ly đã trưởng thành, đủ 18 tuổi và tự lao động sinh sống được nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T khai không cónên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vìcác lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí vàl ệ phíTòa án; tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Bích H và anh Huỳnh Thanh T.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Bích H vàanh Huỳnh Thanh T có 01 con chung là Huỳnh Thị Trúc Ly, sinh ngày 19/3/2001 hiện cháu Trúc Ly đã trưởng thành, đủ 18 tuổi vàtự lao động sinh sống được.

3. Về tài sản chung vànợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim Bích H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005568 ngày 15 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; chị H đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, nơi cư trú của các đương sự, các bên đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

229
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 95/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:95/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về