Bản án 93/2019/HS-ST ngày 18/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 93/2019/HS-ST NGÀY 18/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2019/TLST-HS ngày 16/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2019/QĐXXST- HS ngày 05/9/2019 đối với bị cáo:

Trần Công M, sinh ngày: 21/8/1976, tại huyện M, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Công B (Đã mất) và bà Mai Thị B – Sinh năm: 1956, vợ: Trần Thị O, sinh năm 1977; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 09/5/2019 Tổ công tác Công an phường Tô Hiệu - Công an thành phố Sơn La, đang làm nghiệm vụ tại khu vực tổ 9, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Công M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa cục bột màu trắng. Trần Công M tự giác lấy từ lòng bàn tay phải ra giao nộp và khai nhận là Heroine, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trần Công M khai nhận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 09/5/2019 Trần Công M đi xe Bus từ nhà ở của M tại Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La đến khu vực thành phố Sơn La để đi tìm việc làm. Trên xe Bus Trần Công M có gặp một người nam giới, bị cáo không biết tên và địa chỉ.

Qua nói chuyện, bị cáo Trần Công M có nhờ người nam giới đó mua hộ Heroine thì người đó đồng ý. Khi đi đến khu vực đồi Khau Cả thuộc tổ 9, phường Tô Hiệu thì cả hai xuống xe đi bộ lên khu vực đồi nhà tù Sơn La, tại đây M đưa cho người nam giới 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), người này cầm tiền đi mua ma túy khoảng 30 phút sau người nam giới quay lại đưa cho bị cáo 01 gói Heroine, Trần Công M cất giấu gói Heroine vừa mua được vào lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi để sử dụng, thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Số chất cục, bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy màu trắng có khối lượng 0,13 gam, lấy 0,06 gam làm mẫu giám định kí hiệu M1, còn lại 0,07 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu M2.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1215/QĐ đối với vật chứng ký hiệu M1. Ngày 11/5/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số: 876, kết luận “Mẫu giám định ký hiệu M1 là ma túy; Loại Heroine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,13 gam; loại Heroine” Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKSTP ngày 16 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Công M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Công M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Công M từ 12 (Mười hai) tháng đến 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09/5/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

-Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng + 0,07 gam Heroine.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Công M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Công M khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 40 phút ngày 09/5/2019; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 09/5/2019 bị cáo Trần Công M đã có hành vi tàng trữ 0,13 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có công việc và thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối là phạt tiền với bị cáo.

[4] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng + 0,07 gam Heroine. Xét thấy đây là những vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[5] Đối với người nam giới đã đi mua ma túy cho bị cáo (Như bị cáo đã khai) do bị cáo không biết rõ tên, địa chỉ, lai lịch của người này. Do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Công M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Công M 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày: 09/5/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Về vật chứng của vụ án:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Công M – Sinh năm: 1976. Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/5/2019. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng; mẫu lưu kho M2 = 0,07gam” mắt sau phong bì trên giấy niêm phong có một dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt, kiểm tra niêm phong bên trong còn nguyên vẹn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Công M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HS-ST ngày 18/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:93/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về