Bản án 93/2019/HS-PT ngày 25/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 93/2019/HS-PT NGÀY 25/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Trần Phương Thế N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 165/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Phương Thế N, sinh năm 1994 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc M, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959; Có vợ tên: Nguyễn Thị Bích T2, có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt ngày 02/10/2018 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 10 phút, ngày 01 tháng 10 năm 2018, tại khu vực ấp B, xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai, lực lượng Công an xã Xuân Định phát hiện Trần Phương Thế N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 86B5-138.XX chở anh Huỳnh Ngọc T3 có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, tại giỏ sắt gắn bên trong yếm xe phía bên trái xe mô tô có một vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có một gói ny lon hàn kín kích thước 03x06cm có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Trần Phương Thế N khai nhận gói ny lon hàn kín kích thước 03x06cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp của Trần Phương Thế N mới mua để sử dụng. Anh Huỳnh Ngọc T3 đi cùng nhưng hoàn toàn không biết việc Trần Phương Thế N tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Quá trình điều tra đã xác định: Trần Phương Thế N sử dụng ma túy tổng hợp từ tháng 2 năm 2018. Ngày 01 tháng 10 năm 2018, Trần Phương Thế N đón xe từ thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận đến thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến thành phố Hồ Chí Minh, Trần Phương Thế N đã hỏi mượn của anh Huỳnh Ngọc T3 số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, Trần Phương Thế N điều khiển xe mô tô biển số 86B5-138.XX chở anh Huỳnh Ngọc T3 cùng về nhà tại tỉnh Bình Thuận. Trần Phương Thế N điều khiển xe mô tô đến một hẻm nhỏ không rõ địa chỉ, anh Huỳnh Ngọc T3 đứng chờ bên ngoài còn Trần Phương Thế N tiếp tục điều khiển xe vào hẻm gặp một thanh niên tên C để mua ma tuý. C đã bán cho Trần Phương Thế N một gói ma túy tổng hợp kích thước 03x06cm với giá 1.800.000 đồng. C còn cho thêm 02 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy. Trần Phương Thế N cất giấu gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá hiệu Jet rồi bỏ vào giỏ sắt gắn bên trong yếm xe mô tô, còn 02 nỏ thủy tinh bỏ vào trong ba lô của anh Huỳnh Ngọc T3. Sau đó, Trần Phương Thế N điều khiển xe chở anh Huỳnh Ngọc T3 về tỉnh Bình Thuận, khi đi đến khu vực ấp B, xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 501/PC09-GĐMT ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẩu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có trọng lượng 8,9751 gam, loại: Methamphetamine.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01 gói nylon hàn kín, kích thước 03x06cm, bên trong chứa Methamphetamine; 02 nỏ thủy tinh; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 86B5-138.XX.

Bản cáo trạng số 190/CT-VKSXL ngày 08 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố Trần Phương Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 165/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên bố bị cáo Trần Phương Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ Luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Trần Phương Thế N 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2018.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/12/2018, bị cáo Trần Phương Thế N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm: Chỉ vì nhu cầu của bản thân, mà bị cáo đã vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm trật tự xã hội, cần phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục. Tòa sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 05 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ án, nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới. Đề nghị y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 01 tháng 10 năm 2018, tại khu vực ấp B, xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai, Công an xã Xuân Định phát hiện bị cáo Trần Phương Thế N đã có hành vi tàng trữ 8,9751 gam Methamphetamine.

Qua thẩm vấn bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu lời khai nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ đều phù hợp. Xét án sơ thẩm xử bị cáo Trần Phương Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển của con người. Vì vậy, cần thiết phải có thời gian cải tạo để bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời còn răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con còn nhỏ và xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù, là mức khởi điểm của khung hình phạt luật quy định, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới. Do đó không có cơ sở xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Phương Thế N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Trần Phương Thế N 05 (năm) năm tù. Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2018.

2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HS-PT ngày 25/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:93/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/03/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về