Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2030/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng A, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu 1 B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Như Anh E, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Phần Lan; nơi tạm trú: Phần Lan; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 23-4-2019, bản tự khai và các văn bản khác nguyên đơn là chị Lê Thị Hồng A trình bày: Chị A và anh Huỳnh Như Anh E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng ngày 06-7-2016. Chị A kết hôn với anh E, một phần vì lý do tình cảm, một phần là để chị A được sang Phần Lan sinh sống. Việc bảo lãnh không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận vì cho rằng anh E và chị A làm thủ tục kết hôn giả để sang Phần Lan sinh sống. Cũng do việc bảo lãnh cho chị A sang sinh sống tại Phần Lan không có kết quả nên tình cảm giữa anh E và chị A ngày càng phai nhạt. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh E.

Tại đơn trình bày ngày 15-3-2019, anh Huỳnh Như Anh E xác nhận mối quan hệ giữa anh E, chị A cũng như thực trạng mối quan hệ giữa anh E, chị A đúng như chị A trình bày. Trước khi chị A làm thủ tục ly hôn đã trao đổi, bàn bạc với anh E. Anh E thấy rằng tình cảm đối với chị A không còn nên đồng ý và đã làm văn bản thể hiện quan điểm của anh E gửi về Tòa án.

Về quan hệ nuôi con chung và tài sản chung: Chị A, anh E đều xác nhận quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Chị A giữ nguyên yêu cầu ly hôn cũng như nội dung đã trình bày tại các văn bản của Tòa án, yêu cầu được ly hôn với anh E; về con chung và tài sản chung chị A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh E vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và cam kết không kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Do điều kiện ở xa, không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án nên anh E có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Đề nghị của anh E phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vụ án vắng mặt anh E.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng ngày 06-7-2016 nên là hôn nhân hợp pháp. Việc các bên kết hôn một phần do tình cảm nhưng cũng có lý do là để chị A có điều kiện được sinh sống tại Phần Lan. Tuy nhiên, do cơ quan có thẩm quyền không chấp nhận việc bảo lãnh của anh E cho chị A nên vợ chồng không có cơ hội đoàn tụ. Điều này khiến cho tình cảm của anh E và chị A dần phai nhạt. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cơ hội đoàn tụ vợ chồng không có nên chị A và anh E đều thống nhất được ly hôn để ổn định cuộc sống. Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm về việc ly hôn của chị A, anh E là tự nguyện; phù hợp với tình trạng thực tế mối quan hệ giữa họ và phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[4] Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị A, anh E xác nhận không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật - Điều 146; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng A được ly hôn với anh Huỳnh Như Anh E.

2. Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị Lê Thị Hồng A và anh Huỳnh Như Anh E xác nhận không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng Ba t m ngh n đ ng được khấu tr số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001820 ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị Hồng A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 Mười lăm ngày, kể t ngày tuyên án, chị Lê Thị Hồng Acó quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thời hạn 01 tháng Một tháng kể t ngày bản án được tống đạt hợp lệ, anh Huỳnh Như Anh E có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về