Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/08/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Châu Thị R, sinh năm: 1965; Địa chỉ: ấp 5A, thị trấn Giồng Trôm, huyện G, tỉnh B.

- Bị đơn: Ông Hồng Quốc V, sinh năm: 1962; Địa chỉ: ấp 5A, thị trấn Giồng Trôm, huyện G, tỉnh B.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/02/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Châu Thị R trình bày:

Bà và bị đơn là ông Hồng Quốc V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/12/2002. Vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc chỉ có thời gian đầu. Sau đó, ông V thường hay cải vã và gây chuyện với vợ con, ông V có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, bỏ mặc vợ con, không chăm lo cho gia đình. Bà và ông V đã sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà có yêu cầu ly hôn với ông V.

Trong quá trình chung sống bà và ông V có 02 con chung là: Hồng Thị Thùy Dương, sinh ngày: 28/3/1987 và Hồng Quốc Bảo, sinh ngày 08/5/1989. Cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà R vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông V, ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên hòa giải nhưng Ông V đều vắng mặt không lý do.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến của ông V, ông V cho rằng ông sẽ bàn bạc lại với bà R về việc bà R xin ly hôn. Trường hợp bà R và ông thuận tình ly hôn thì ông sẽ báo với Tòa án sau.

Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 26 tháng 7 năm 2019, ông V cũng vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay nhưng ông V vắng mặt không lý do, bà R có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Ông Hồng Quốc V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án váng mặt ông V.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà R và ông V chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/12/2012 nên quan hệ hôn nhân của ông bà được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Vợ chồng ông V và bà R cùng chung sống với nhau ở ấp 5A, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cải vã với nhau, thường hay bất hòa. Theo bà R thì nguyên nhân chính là do ông V thường xuyên không quan tâm đến vợ con và còn có người phụ nữ khác bên ngoài nên bà và ông V đã sống ly thân với nhau từ năm 2008 cho đến nay, không có thời gian đoàn tụ.

Hội đồng xét xử xét thấy ông V và bà R đã sống ly thân với nhau từ năm 2008, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, ông bà không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ như chồng. Do bà R không còn tình cảm vợ chồng với ông V nữa nên bà có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V. Tòa án đã tiến hành thông báo tổ chức phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho ông bà đoàn tụ. Tuy nhiên, ông V đã bỏ mặc không tham gia. Mặt khác, trong thời gian ly thân ông V cũng không quan tâm chăm sóc bà R và con chung, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân hiện tại của ông bà để kéo dài đời sống chung mà ông đã bỏ mặc cho bà R tự giải quyết. Tòa án đã động viên bà R trở lại, hàn gắn đoàn tụ với gia đình nhưng bà R vẫn cương quyết yêu cầu xin ly hôn với ông V.

Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà R đối với ông V là phù hợp.

- Về con chung: Bà R và ông V có 02 con chung là: Hồng Thị Thùy Dương, sinh ngày: 28/3/1987 và Hồng Quốc Bảo, sinh ngày 08/5/1989. Cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được.

Hội đồng xét xử xét thấy hai con chung của bà R và ông V đều đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được và không có yêu cầu giải quyết nên ghi nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà R khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

- Về phí: Bà R phải chịu án phí Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Châu Thị R được ly hôn với ông Hồng Quốc V.

2. Về con chung: Ghi nhận bà Châu Thị R và ông Hồng Quốc V có 02 con chung là: Hồng Thị Thùy Dương, sinh ngày: 28/3/1987 và Hồng Quốc Bảo, sinh ngày 08/5/1989. Cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp Thơ tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Châu Thị R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà R đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002222 ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; Bà R đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày: Đối với nguyên đơn có mặt tại tòa thì kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt tại tòa thì kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của bị đơn; có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về