Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 93/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị KH – sinh năm: 1988 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Đa chỉ: Ấp A, thị trấn B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn Đ – sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Đa chỉ: Ấp A, thị trấn B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 04/10/2019 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị KH trình bày tóm tắt như sau: Chị và anh Đ tiến đến hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng nên đã ly thân nhau từ tháng 12/2018 đến nay, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Võ Văn Đ.

Về con chung: Có 03 con chung tên Võ Văn T (nam), sinh ngày 12/3/2003, Võ Thị B (nữ), sinh ngày 21/5/2006, Võ Thị D (nữ), sinh ngày 18/9/2009, do các con lựa chọn chung sống với cha hay mẹ, nếu các con muốn chung sống với chị thì chị đồng ý nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị KH có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Võ Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không lý do chính đáng, không cung cấp ý kiến trình bày và bản tự khai cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù được triệu trập hợp lệ đến lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hồi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị KH với anh Đ. Về con chung cả 03 cháu T, B và T đều muốn chung sống với chị KH, phù hợp với ý kiến của chị KH nên đề nghị giao cho chị KH nuôi dưỡng, do chị KH không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Đề nghị buộc chị KH phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị KH và anh Đ do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình nên chị KH yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, về quyền nuôi con với anh Đ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

[2] Xét về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị KH và anh Đ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Do cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc chị KH yêu cầu được ly hôn với anh Đ; chị KH và anh Đ đã ly thân nhau thời gian dài mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm hôn nhân, chị KH có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải điều đó cho thấy hôn nhân giữa chị KH và anh Đ đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận cho chị KH được ly hôn với anh Đ.

[4] Xét về con chung và vấn đề cấp dưỡng: Chị KH đồng ý nuôi dưỡng các con và cả 03 con đều có nguyện vọng sống cùng chị KH nên có căn cứ giao các cháu T, B và T cho chị KH được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; do chị KH không yêu cầu nên anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị KH khai không có nhưng chưa có ý kiến của anh Đ nên để đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đ nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.

[6] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị KH phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị KH với anh Võ Văn Đ, chị Nguyễn Thị KH được ly hôn với anh Võ Văn Đ.

2. Về con chung: Giao các cháu Võ Văn T (nam), sinh ngày 12/3/2003, Võ Thị B (nữ), sinh ngày 21/5/2006, Võ Thị D (nữ), sinh ngày 18/9/2009 cho chị Nguyễn Thị KH được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, do chị KH không yêu cầu nên anh Võ Văn Đ Đua không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Võ Văn Đ không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị KH phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0021838 ngày 04/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (chị KH đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:93/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về