Bản án 92/2018/HSST ngày 03/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 92/2018/HSST NGÀY 03/05/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 175/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Thị Quỳnh N, sinh năm 1995; đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Đ, Thành phố T; nơi ở hiện nay: đường H, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Công T và bà Nguyễn Thị B; chồng: Nguyễn Văn L; có 01 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 11/12/2017 đến ngày 20/12/2017 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 11/12/2017 tại khu vực đường Q, phường Đ, Thành phố T, tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy công an Thành phố T phát hiện Lê Thị Ngọc H sinh năm 1999 trú tại đường N, phường Đ, Thành phố T điều khiển xe mô tô phía sau chở Trần Thị Quỳnh N có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, qua kiểm tra N tự giao nộp 02 gói ni long màu trắng, trong đó 01 gói bên trong có chứa các hạt tinh thể, 01 gói bên trong có chứa 01 viên nén màu xanh và 01 viên nén màu hồng, N khai nhận tất cả đều là ma túy N mua về sử dụng, thu giữ của N 01 xe máy Click màu trắng BKS 36B1-55216

Cùng ngày 11/12/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Thanh Hóa khám xét khẩn cấp nơi ở của N thu giữ trong thùng giấy ở phòng ngủ tầng 2 nhà N gồm: 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng ngà, 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa 76 viên nén màu hồng và 01 gói nilong màu trắng bên trong có chứa 118 viên màu xanh.

Ngày 08/01/2018 phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa kết luận vật chứng thu của Trần Thị Quỳnh N có trọng lượng gồm: 01 gói thu giữ và 01 gói khám xét là ma túy tổng hợp có trọng lượng 4,606g loại Ketamin; 02 viên nén Như tự giao nộp và 194 viên nén khám xét là ma túy có tổng trọng lượng 66,733g loại MDMA.

Tại cơ quan điều tra N khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2017 N đi Hà Nội chơi và mua sắm đồ cá nhân, khi N đang ngồi uống nước ở bờ hồ L, Hà Nội, N gặp 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ qua làm quen biết người này có ma túy bán giá rẻ nên N hỏi mua 01 gói ketamin và 200 viên ma túy tổng hợp tổng hết 43 triệu đồng, mua xong đem về nhà N đã sử dụng 04 viên ma túy tổng hợp và 01 ít Ketamin, số còn lại N bỏ vào thùng giấy rồi cất dấu trên phòng ngủ tầng 2 để sử dụng dần, đến khoảng 15h30 phút ngày 11/12/2017 N lấy tiếp 02 viên ma túy tổng hợp và 01 ít ketamin bỏ vào túi để lúc nào cần thì lấy ra sử dụng, sau đó N mượn xe máy của anh Doãn Trung T ở phường Đông H, Thành phố T rồi rủ bạn là Lê Thị Ngọc H đi chơi, khi cả 02 đến khu vực đường Q, phường Đ, Thành phố T thì bị đội điều tra tội phạm về ma túy công an Thành phố Thanh Hóa phát hiện kiểm tra hành chính N tự giao nộp 01 gói ketamin và 02 viên ma túy tổng hợp, số còn lại 01 gói ketamin và 194 viên ma túy tổng hợp N cất vào thùng giấy trong phòng ngủ tầng 2 thì bị khám xét thu giữ và thu giữ của N 01 xe máy Click màu trắng đen BKS 36B1-55216.

Đối với Lê Thị Ngọc H người chở Như đi, quá trình điều tra Huyền không biết N tàng trữ ma túy, nên cơ quan công an nhắc nhở rút kinh nghiệm.

Đối với người phụ nữ khoảng 40 tuổi, N khai đã bán số ma túy cho N, quá trình điều tra N không rõ tên, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh xử lý.

Đối với chiếc xe máy hiệu Click màu trắng đen BKS 36B1-55216 thu giữ của N, quá trình điều tra chiếc xe này N mượn của anh Nguyễn Doãn Trung T, anh T không biết N dùng vào việc phạm tội, cơ quan công an đã trả lại cho anh T.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS-KT ngày 03 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Trần Thị Quỳnh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS 1999; điểm 1 khoản 2 Điều 249; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về thi hành Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời sau cùng đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình đều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu được trong vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 15h30’ ngày 11/12/2017 N cất dấu trong túi quần 01 gói ma túy loại Ketamine có trọng lượng 0,342g và 02 viên ma túy tổng hợp loại MDMA có trọng lượng 0,665g thì bị công an Thành phố Thanh Hóa phát hiện N tự giác giao nộp tại khu vực đường Q, phường Đ, Thành phố Thanh Hóa. Khám xét nơi ở của N thu 01 gói ma túy loại ketamine có trọng lượng 4,264g và 194 viên ma túy tổng hợp loại MDMA có trọng lượng 66,068g (tổng trọng lượng các chất ma túy khác ở thể rắn là 71,339g). Nên tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố Trần Thị Quỳnh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Trần Thị Quỳnh N có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do bị cáo tàng trữ tổng trọng lượng các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng là 71,339g (trên 20g), nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt và chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 của BLHS năm 1999.

[3] Tính chất vụ án: Tội phạm về ma túy là những tội phạm nguy hiểm, nó đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma túy không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe, phẩm giá của con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Trong vụ án này, bị cáo đã bất chấp dư luận xã hội, bất chấp quy định của pháp luật, ngang nhiên mua ma túy về trữ sẵn để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do vậy phải được xử lý nghiêm minh.

[4] Về nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhận thức, nhưng không chịu làm ăn lao động chính đáng, sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, lao vào con đường sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến phạm tội. Nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự, nhưng với tính chất rất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo, thì việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo một phần vì thành khẩn khai báo, bị cáo có bố mẹ từng tham gia thanh niên xung phong được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và áp dụng khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015 để xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về vật chứng: Xét số ma túy đã được giám định, được niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhân vật chứng số 109 ngày 17/4/2018, đây là chất cấm lưu hành sử dụng, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm m khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999; Khoản 3 Điều 7, điểm 1 khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015; Khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 362/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Trần Thị Quỳnh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Thị Quỳnh N 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, (được trừ đi 09 ngày tạm giữ trước từ ngày 11/12/2017 đến ngày 20/12/2017)

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được giám định và niêm phong bằng phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh hóa theo biên bản giao nhận vật chứng 109 ngày 17/4/2018

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.<


82
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về