Bản án 91/2020/HSST ngày 04/06/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 91/2020/HSST NGÀY 04/06/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2020/TLST- HS ngày 04 tháng 03 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 04 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Hải N - Tên gọi khác: Không;

- Sinh ngày: 21/4/1977, tại thành phố C tỉnh Quảng Ninh;

- Nơi ĐKHKTT & Chỗ ở: tổ 3, khu 4A, phường C, thành phố Cẩm Phả; tỉnh Quảng Ninh.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: không; Trình độ học vấn: Lớp 07/12;

- Họ tên bố: Trần Trọng T; Họ tên mẹ: Phạm Thị T - Vợ: Lê Thị V (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 1999;

- Tiền án, tiền sự: Không ;

- Nhân thân: Ngày 30/10/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố Cẩm Phả) xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 15/01/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm, tuyên phạt y án sơ thẩm. Đến ngày 02/02/2010 chấp hành xong bản án.

- Bị cáo bị bắt ngày 30/12/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

2. Họ và tên: Mai Ngọc A - Tên gọi khác: Không;

- Sinh ngày: 09/4/1995, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;

- Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, khu 1, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

- Chỗ ở hiện nay: tổ 3, khu 4A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

- Họ tên bố: Mai Văn Ch; Họ tên mẹ: Trần Thị O - - Chồng: Nguyễn Văn Quảng; Có 01 con sinh năm 2018;

- Tiền án, tiền sự : Không ;

- Bị cáo bị bắt ngày 30/12/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T - sinh ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, khu 4A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt

*Người làm chứng: Anh Đỗ Đức Đ – sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 2, khu 3, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Ông Lương Tiến D – sinh năm 1960; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1, khu S, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 30/12/2019, tại khu vực bãi đất trống thuộc tổ 3, khu 8, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ của Đạt và Duật: 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa, nắp chai đục 02 lỗ, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa gas;

01 túi nilon kích thước (1,5x2)cm bên trong dính chất tinh thể màu trắng. Thu giữ của Đạt 01 điện thoại di động Sam Sung vỏ màu trắng, lắp sim số 0857.027.699.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm Phả đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật.

Kết luận giám định số 05/GĐMT ngày 06/01/2020 và của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật gửi giám định có ma túy, loại Methamphetamine. (Bút lục số 63) Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Đức Đ và Lương Tiến D khai nhận, do đều có nhu cầu sử dụng ma tuý đá, khoảng 14 giờ 50 phút ngày 30/12/2019 Đạt và Duật đã rủ nhau góp tiền mua ma tuý của Ninh Toàn nhà ở tổ 3, khu 4A, phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả, khi mua ma tuý của Toàn thì Mai Ngọc A là bạn gái của Ninh Toàn nghe điện thoại của Toàn khi Đạt gọi hỏi mua ma tuý, và khi Duật và Đạt đến nhà Toàn thì Mai Ngọc A là người đưa ma tuý và nhận tiền của Đạt và Duật góp chung là 300.000đồng. Đạt và Duật sau khi mua được ma tuý đi về ra bãi đất trống gần nhà nghỉ Thẩm Quyến, phường Cẩm Thạch cùng nhau sử dụng. Khi vừa sử dụng hết thì lực lượng Công an đến kiểm tra và thu giữ những vật chứng như nêu trên.

Đến hồi 19 giờ 35 phút ngày 30/12/2019, Mai Ngọc A ra đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động Oppo màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing màu đen viền đỏ. Tại Cơ quan điều tra, Mai Ngọc A khai nhận phù hợp với Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật về việc mua bán ma túy chiều ngày 30/12/2019.

Căn cứ lời khai của Đỗ Đức Đạt, Lương Tiến Duật và Mai Ngọc A, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Hải N. Quá trình khám xét đã thu giữ:

+ Thu dưới gầm kệ kính trong nhà Trần Hải N: 01 túi xách giả da màu nâu – đen bên trong có 01 túi vải màu xanh đựng 01 túi nilon kích thước (4x6)cm và 01 túi nilon kích thước (2x1,6)cm bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 08 cm, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen; 09 vỏ túi nilon kích thước (4x6)cm và 05 vỏ túi nilon kích thước (4,1x7,4)cm, 01 túi nilon kích thước (2x1,6)cm bên trong đều không chứa gì.

+ Thu trên thành phía trong cửa sổ trên giường ngủ trong nhà 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá, gồm 01 chai nhựa nắp chai có gắn một nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa.

+ Thu trong tủ quần áo 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 túi nilon kích thước (4x6,8)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; số tiền 45.100.000đồng.

+ Thu trong người Ninh 500.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia vỏ màu đen lắp sim số 0914.888.112.

Kết luận giám định số 06/GĐMT ngày 06/01/2020 và của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hải N kí hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng lần lượt: M1:2,942 gam, M2:

0,163 gam, M3: 2,926 gam (Bút lục số 69).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hải N khai nhận phù hợp với lời khai của Mai Ngọc A.

Tại phiên toà bị cáo Mai Ngọc A khai nhận, bị cáo và Ninh là người yêu của nhau, bị cáo thường xuyên ở nhà của Ninh, ngày 30/12/2019 khi có người gọi điện đến máy điện thoại của Ninh hỏi mua 300.000đồng ma tuý đá, do trước đó bị cáo và Ninh đã nhiều lần sử ma tuý cùng nhau, nên bị cáo đã nhận lời và hẹn người hỏi mua đến nhà của Ninh. Sau đó bị cáo nói cho Ninh biết về việc có người hỏi mua ma tuý, thì Ninh đồng ý, Ninh đã đưa cho bị cáo 01 túi ma tuý để bị cáo bán, số tiền 300.000đồng bán ma tuý, Ninh bảo bị cáo giữ lại để đi chợ, bị cáo đã mua đồ ăn hết số tiền này. Bị cáo không biết Ninh mua, cất giấu ma tuý, Ninh không nói trước cho bị cáo biết Ninh có ma tuý để bán, đây là lần đầu bị cáo bán ma tuý, mục đích bị cáo bán ma tuý hộ Ninh là do bị cáo ở nhờ và được Ninh cho cùng sử dụng ma tuý. Đến chiều tối cùng ngày 30/12/2019 khi biết việc Đạt và Duật là người đến mua ma túy của bị cáo bị phát hiện về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo đã đầu thú mong nhận được khoan hồng của pháp luật, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động Oppo màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing màu đen viền đỏ là 02 điện thoại của bị cáo sử dụng liên lạc hàng ngày, không liên quan đến việc mua bán ma tuý.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Hải N khai nhận ngày 30/12/2019, khi Ngọc Anh bảo có người gọi điện hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, bị cáo đã lấy 01 túi ma túy đá đưa cho Ngọc Anh để Ngọc Anh bán, số tiền bán ma tuý khi Ngọc Anh đưa lại, bị cáo bảo Ngọc Anh giữ lại để đi chợ. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày khi Cơ quan công an đến nhà bị cáo khám xét đã thu giữ một số đồ vật, tài sản, trong đó có 03 túi ni lon ma tuý đá như cáo trạng mô tả. Nguồn gốc túi ma tuý đá bị cáo đưa cho Ngọc Anh bán và 03 túi ma túy đá Cơ quan công an thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo là do bị cáo nhờ Hùng là bạn bè xã hội mua hộ, với giá 3.200.000 đồng. Số ma tuý mua được bị cáo chia ra thành 04 túi (02 túi to, 02 túi nhỏ), bị cáo và Ngọc Anh đã bán 01 túi nhỏ, còn lại 03 túi bị cáo cất giấu với mục đích để sử dụng và bán. Việc mua và cất ma túy,bị cáo không nói cho Ngọc Anh biết và cũng không có ai biết. Chiếc điện Nokia là của bị cáo, là điện thoại Ngọc Anh nghe điện của người hỏi mua ma tuý. Trong số tiền thu giữ khi khám xét tại nhà bị cáo, trong đó 40.000.000 đồng là tiền của mẹ bị cáo đưa để mua xe máy; số tiền 5.600.000 đồng là tiền bị cáo lao động mà có.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Phạm Thị Tuyết, bà Tuyết có mặt tại phiên toà, trình bày, ngày 28/12/2019 bà có đưa cho con trai bà là Trần Hải N vay số tiền 40.000.000đồng để mua xe máy, nhưng chưa kịp mua thì Ninh bị bắt giữ, quá trình điều tra bà đã được trả lại số tiền 40.000.000đồng, bà không có yêu cầu gì khác.

Đỗ Đức Đ và Lương Tiến D là người làm chứng trong vụ án, quá trình điều tra có lời khai phù hợp lời khai của Mai Ngọc A về việc: khoảng 14 giờ 50 phút ngày 30/12/2019, Đạt gọi điện thoại cho Ninh Toàn hỏi mua ma túy, thì Mai Ngọc A nghe máy và đồng ý bán. Khi đến nhà Ninh, Ngọc Anh (là bạn gái của Ninh) đi ra đưa 01 túi ma túy đá qua khe cửa xếp cho Đạt và lấy 300.000 đồng. (Bút lục số 87 – 92, 96 – 103).

Tài liệu hồ sơ vụ án còn có các tài liệu khác: Biên bản tiếp nhận người ra đầu thú; Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; Biên bản kiểm tra điện thoại; Biên bản nhận dạng; Biên bản xác định địa điểm và các liệu khác đều có nội dung phù hợp lời khai của các bị cáo, phù hợp lời khai của người làm chứng Đỗ Đức Đạt, Lương Tiến Duật.

Tại bản cáo trạng số 73/CT- VKSCP ngày 10/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Trần Hải N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố Mai Ngọc A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội các bị cáo với đề nghị kết tội các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hải N từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/12/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Ngọc A từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/12/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; quan điểm xử lý vật chứng theo quy định, ngoài ra còn đề nghị truy thu của bị cáo Ninh số tiền 300.000đồng là số tiền bị cáo thu được từ việc bán ma tuý để nộp ngân sách nhà nước.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hồi đồng xét xử xét thấy,trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Hải N và Mai Ngọc A khai nhận ngày 30/12/2019 Trần Hải N và Mai Ngọc A đã bán 01 túi ma túy đá với gía 300.000đồng cho Đạt và Duật, lời khai nhận tội này của các bị cáo phù hợp thống nhất nhau và phù hợp lời khai của người làm chứng , ngoài ra còn phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án: Kết luận giám định ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đạt của Duật, Biên bản kiểm tra điện thoại của Đạt của bị cáo Toàn, Biên bản nhận dạng đối tượng mua và bán ma túy. Bị cáo Trần Hải N khai nhận bị cáo tàng trữ trái phép 6,031 gam Methamphetamine với mục đích để bán và sử dụng, phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định ma túy thu giữ tại nơi ở của bị cáo.

Trên cơ sở các chứng cứ trên và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 30/12/2019, tại tổ 3, khu 4A, phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả,tỉnh Quảng Ninh, Trần Hải N và Mai Ngọc A đã bán trái phép 01 gói ma túy đá giá 300.000đồng cho Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật. Ngoài ra, Trần Hải N có hành vi tàng trữ trái phép 6,031 gam Methamphetamine với mục đích để bán và sử dụng.

Hành vi này của các bị cáo Trần Hải N và Mai Ngọc A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với Trần Hải N thuộc trường quy định tại điểm tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (tội danh có khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù); đối với Mai Ngọc A thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (tội danh có khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo đủ nhận thức và biết việc mua bán ma túy là trái pháp luật, nhưng vì lối sống buông thả, ý thức chấp hành pháp luật kém, đã mua bán ma tuý nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong nhân dân. Vì vậy cần thiết xử lý cách ly các bị cáo khỏi xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Hải N và Mai Ngọc A khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, bị cáo Mai Ngọc A ra đầu thú, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Mai Ngọc A được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, bị cáo Ninh đã bị kết án, đã được xóa án tích xác định thuộc trường hợp nhân thân xấu.

[5] Vụ án có đồng phạm. Bị cáo Trần Hải N là người mua ma túy, chia ma túy thành các túi nhỏ và là người đưa ma tuý cho Mai Ngọc A để bán, nên Ninh giữ vai trò đầu vụ, ngoài ra Ninh còn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 6,031 gam Methamphetamine với mục đích để bán và sử dụng. Bị cáo Mai Ngọc A là người thực hiện việc bán 01 túi ma túy cho Đạt và Duật, nên bị cáo Mai Ngoc Anh phải chịu trách nhiệm hình sự về vai trò đồng phạm giúp sức đối với Ninh về hành vi bán 01 túy ma túy này.

[6 ] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng đối, phù hợp với từng bị cáo.

[7] Về vật chứng:

Số tiền 40.000.000đồng, có đủ cơ sở xác định là của bà Phạm Thị Tuyết, Cơ quan điều tra đã trả cho bà Tuyết là phù hợp, không đề cập xem xét.

Số tiền 5.600.000đồng thu giữ của Trần Hải N, là của bị cáo do lao động mà có nên trả cho bị cáo.

Một chiếc điện thoại di động Oppo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing màu đen viền đỏ thu giữ của Mai Ngọc A, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, trả cho bị cáo.

Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo Ninh, xác định là điện thoại liên lạc để mua bán ma tuý, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Hai bộ đồ sử dụng ma tuý; 01 túi xách giả da màu đen, 01 túi vải màu xanh, 01 ống hút nhựa màu trắng dài 08cm một đầu cắt vát; 15 vỏ túi nilon, 01 cân điện tử (bị cáo xác nhận đã bị hỏng) là vật không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ.

Số mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 06/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh, xác định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Chiếc điện thoại thu giữ của Đỗ Đức Đạt, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả cho Đạt nên không đề cập xem xét.

Số tiền 300.000đồng bán ma túy cho Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật là tiền do phạm tội mà có. Xác định bị cáo Trần Hải N là người quyết định chi tiêu số tiền này nên cần truy thu của bị cáo Trần Hải N để nộp ngân sách nhà nước.

[8] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với Hùng , theo Trần Hải N khai là người mua hộ Ninh ma túy, nhưng không rõ địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Đức Đạt và Lương Tiến Duật, Công an thành phố Cẩm Phả ra quyết định xử phạt hành chính Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Hải N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Trần Hải N 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 30/12/2019.

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Mai Ngọc A 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/12/2019.

Áp dụng điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả cho bị cáo Trần Hải N số tiền 5.600.000đồng (năm triệu sáu trăm nghìn đồng);

Trả cho bị cáo Mai Ngọc A: 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu hồng, kèm 01 sim đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Wing màu đen viền đỏ, model:K2, số IMEI: 911410500452668 kèm 01 sim, điện thoại đã cũ.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model: 6300, kèm 01 sim, 01 pin, điện thoại đã cũ.

Tịch thu tiêu huỷ:

-Hai bộ đồ sử dụng ma tuý; 01 túi xách giả da màu nâu đen, 01 túi vải màu xanh, 01 ống hút nhựa màu trắng dài 08cm một đầu cắt vát; 01 cân điện tử ; 01 bật lửa ga, đều đã qua sử dụng.

- 15 vỏ túi nilon không chứa gì.

- Số mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 06/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh.

(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 126/BB-THA ngày 08/05/2020 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

-Truy thu của bị cáo Trần Hải N số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Trần Hải N và Mai Ngọc A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Tuyết. Báo cho các bị cáo, bà Phạm Thị Tuyết biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2020/HSST ngày 04/06/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:91/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cẩm Phả - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về