Bản án 91/2019/HSST ngày 06/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 91/2019/HSST NGÀY 06/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2019/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Tòng Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1990 tại: Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã P L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Tòng Văn H, sinh năm: 1968 và bà Tòng Thị D, sinh năm: 1970; bị cáo có vợ là Tòng Thị P, sinh năm: 1993 ( Đang ly thân ) và có 02 con ( Lớn 06 tuổi, nhỏ 03 tuổi ); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 04/5/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Tòng Văn S; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992 tại: Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã P L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Tòng Văn T, sinh năm: 1962 và bà Tòng Thị C, sinh năm: 1968; bị cáo có vợ là Lường Thị X, sinh năm: 1995 và có 02 con ( Lớn 07 tuổi, nhỏ 04 tuổi ); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 04/5/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 04/5/2019, tại khu vực bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang 02 đối tượng gồm: Tòng Văn H Sinh năm: 1990, và Tòng Văn S, sinh năm: 1992 cùng trú tại: Bản N, xã P L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa bột cục màu trắng (Theo đối các đối tượng H và S khai nhận là Heroine); 01 viên nén hình trụ màu hồng (Theo các đối tượng H và S khai nhận là ma túy tổng hợp);

Kết quả cân tịnh số bột cục màu trắng và 01 viên nén hình trụ màu hồng của các đối tượng H và S như sau:

- Số bột cục màu trắng có khối lượng 0,25 gam, trích rút toàn bộ 0,25 gam đánh ký hiệu H1 làm mẫu vật gửi giám định.

- 01 viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,10 gam, trích rút toàn bộ 0,10 gam đánh ký hiệu H2 làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 850/KLMT ngày 06/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt H1 là ma túy, loại chất Heroine; H2 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định H1 = 0,25 gam; H2 = 0,10 gam. Khối lượng chất Heroine tạm giữ của Tòng Văn H và Tòng Văn S là 0,25 gam. Khối lượng chất Methamphetamine tạm giữ của Tòng Văn H và Tòng Văn S là 0,10 gam.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, các bị can Tòng Văn H và Tòng Văn S đã khai nhận như sau:

Khong 08 giờ ngày 04/5/2019, Tòng Văn H và Tòng Văn S gặp nhau ở bản Nghịu, xã Phổng Lập, huyện Thuận Châu. Hiệp rủ Soạn góp tiền đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, S đồng ý đưa Hiệp 70.000đ ( Bảy mươi nghìn đồng ), H cầm tiền S đưa rồi góp và 130.000đ ( Một trăm ba mươi nghìn đồng ). H và S đi bộ ra Quốc lộ 6A đón xe buýt đi xuống xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu để tìm mua ma túy, khi tới ngã ba Thôm Mòn thì xuống xe sau đó cả hai đi bộ vào bản Phé, xã Thôm Mòn hỏi và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đang đứng ở ven đường 01gói ma túy được gói bằng mảnh ni lon màu trắng, bên trong có chứa 01 viên Hồng phiến và một ít Heroine với giá 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ). H cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi cùng S đi bộ ra Quốc lộ 6A để đón xe buýt về nhà. Tuy nhiên khi H và S vừa đi bộ đến ngã ba Thôm Mòn thì bị tổ công tác Công an xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang cùng với vật chứng là gói ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 24/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố các bị can Tòng Văn H và Tòng Văn S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố các bị cáo Tòng Văn H và Tòng Văn S, về tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn H và Tòng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

+ Đề nghị và xử phạt bị cáo Tòng Văn H mức án từ 16 đến 20 tháng tù.

+ Đề nghị và xử phạt bị cáo Tòng Văn S mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số chứng gồm: 01 mảnh ni lon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Miễn cho các bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm ( Do các bị cáo đều thuộc hộ gia đình nghèo ).

Tại phiên tòa bị cáo H có ý kiến: Thừa nhận ngày 04/5/2019, đã rủ rê bị cáo S góp tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng, bị phát hiện bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine và 0,10 gam Methamphetamine. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo S có ý kiến: Thừa nhận ngày 04/5/2019, đã nghe theo lời rủ rê của bị cáo H mà góp tiền để mua ma túy cùng nhau sử dụng, bị phát hiện bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine và 0,10 gam Methamphetamine. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 04/5/2019, các bị cáo Tòng Văn H và Tòng Văn S ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép 02 loại chất ma tuý (0,25 gam Heroine + 0,10 gam Methamphetamine = 0,35 gam ) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định đối với vật chứng là 02 chất ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận các bị cáo Tòng Văn H và Tòng Văn S đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này .”.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của các bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội, với mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục và cải tạo các bị cáo thành những người công dân có ích cho xã hội.

[4] Trong vụ án các bị cáo cùng thực hiện một hành vi phạm tội, trong đó bị cáo H giữ vai trò khởi xướng; bị cáo S giữ vai trò đồng phạm tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để cá thể hóa hành vi phạm tội của mỗi bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Tình tiết tăng nặng: Không.

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo cùng có thái độ khai báo thành khẩn, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Các bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ các bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định các bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[9] Xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng 0,25 gam Heroine và 0,10 gam Methamphetamine là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên đã sử dụng hết trong quá trình giàm định, do vậy không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Đối với số vật chứng còn lại gồm: 01 mảnh ni lon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Cần áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo các bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết tại bản Phé, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra do các bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng. Nên cơ quan Điều tra không có cơ sở, để điều tra làm rõ.

[11] Các bị cáo cùng thuộc hộ gia đình nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

[12] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 - điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn H và Tòng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Tòng Văn H 16 ( Mười sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 04/5/2019 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

- Xử phạt bị cáo Tòng Văn S 15 ( Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 04/5/2019 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh ni lon màu trắng + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu. các vật chứng trên được niêm phong trong cùng một phong bì thư có viền xanh đỏ.

3. Án phí:

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Miễn cho các bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho các bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2019/HSST ngày 06/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:91/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về