Bản án 91/2018/HSST ngày 30/05/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 91/2018/HSST NGÀY 30/05/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Hôm nay ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 94/2018/HSST ngày 09/5/2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/QĐXXST ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

VŨ MINH D; sinh ngày 23 tháng 5 năm 1974 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: Số 9 phố Y, phường H, quận T, Thành phố Hà Nội; hiện không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: (không); trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Vũ Đình B (đã chết) và bà: Phạm Thị B (đã chết); chồng: Nguyễn Doãn T (đã ly hôn) và có 02 con (lớn 24 nhỏ 25 tuổi).

Danh chỉ bản số 122 lập ngày 22/01/2018 tại Công an quận H, Thành phố Hà Nội.

01 Tiền án: Ngày 31/5/2010 Tòa án nhân dân quận T1 kết án 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tm giữ: 21/01/2018; tạm giam: 27/01/2018 - (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:

Khong 23h00 ngày 20/01/2018, tại khu vực ngõ 933 đường H, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường B qua kiểm tra đã thu giữ của Vũ Minh D 01 túi nylon chứa chất tinh thể màu trắng để trong túi nylon đựng trong gói xôi treo phía trước chỗ để chân của xe máy, D khai là ma túy “đá” mang đi bán.

Tổ công tác đã đưa D về trụ sở Công an phường để giải quyết.

Tang vật thu giữ của D: 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng (kèm sim); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5s màu trắng (kèm sim); 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A8 (kèm sim); 01 xe máy VISION màu xanh biển số 29K1 - 110.86.

Theo kết luận giám định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon thu giữ của Vũ Minh D là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 4,956 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Minh D khai: Khoảng 19h00 ngày 20/01/2018 có một nam thanh niên tên là Đ (không rõ căn cước) sử dụng số điện thoại 0989030404 (lưu trong danh bạ là Cháu bạn trã) gọi điện thoại vào số 01673376525 của D hỏi mua 05 gam ma túy dạng “đá”, D đồng ý. Sau đó, D gọi điện thoại cho người phụ nữ tên H (không rõ căn cước) hỏi mua 05 gam ma túy “đá” với giá là 2.500.000 đồng rồi hẹn ra khu vực cây xăng T, quận T, Thành phố Hà Nội để giao dịch. Theo hẹn D điều khiển xe máy VISION đến khu vực cây xăng 436 đường T gặp H, trên đường đi D gọi cho Đ báo giá 05 gam ma túy “đá” giá 2.700.000 đồng. Đ đồng ý và hẹn khi nào có ma túy thì mang lên trước cửa khách sạn V đường giao cho Đ. Tại cây xăng 436 đường T, H đưa cho D 01 túi nylon màu trắng, H giấu số ma túy trên vào túi nylon bên trong đựng gói xôi treo ở phía trước chỗ để chân xe máy và nói với H khi nào bán được ma túy D sẽ trả tiền cho H. Sau khi mua được ma túy, D điều khiển xe máy đến chỗ hẹn với Đ, khi đi đến trước ngõ 933 đường H chờ Đ thì bị Công an kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với lời khai nhân chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ. Ngoài ra D khai đây là lần đầu D bán ma túy, D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5s màu trắng để liên lạc mua bán ma túy với H và Đ, hai chiếc điện thoại còn lại D sử dụng để liên lạc với gia đình và bạn bè.

Chiếc xe máy VISION màu xanh biển số 29K1-110.86; quá trình điều tra xác định xe máy có số máy: JF33E0141726; số khung: RLHJF3300CY141687 là số nguyên thủy. Qua tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Quá trình điều tra xác định Biển mang số 29K1-110.86 là Biển số của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda màu vàng nhạt đen có số khung: 637523, số máy: 0638121 đăng ký mang tên anh Trần Quốc T (hộ khẩu thường trú: 564/55 đường C, phường G, quận L, Thành phố Hà Nội). Anh T sử dụng dụng chiếc xe máy và Biển số xe trên từ khi đăng ký cho đến nay.

Tại cơ quan điều tra, D khai: Chiếc xe máy trên D mua của một người đàn ông không quen biết tại chợ T, Thành phố Hà Nội với giá 15.000.000 đồng. Khi mua không lập giấy tờ mua bán và xe không có đăng ký. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H chuyển chiếc xe máy trên theo hồ sơ vụ án.

Đi tượng tên Đ, do D khai không biết rõ căn cước, chỉ biết tên là Đ dùng số điện thoại 0989030404. Cơ quan điều tra đã rút List điện thoại xác minh chủ thuê bao trên là chị Nguyễn Minh T; sinh năm: 1983; hộ khẩu thường trú: Tổ 5, phường V, quận N, Thành phố Hà Nội. Khi xác minh chị T đã đi khỏi địa phương từ lâu, không rõ chuyển đi đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không có điều kiện xác minh làm rõ.

Đi tượng tên “H” bán ma túy cho D, D khai không biết rõ căn cước. Việc trao đổi mua bán ma túy giữa D và H liên lạc qua điện thoại, khi gọi xong D đã xóa nhật ký cuộc gọi và D không nhớ số điện thoại nào là của H, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Bản cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 04/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Vũ Minh D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Vũ Minh D khai khoảng 19h00’ ngày 20/01/2018 đối tượng tên Đ gọi điện cho bị cáo hỏi mua 05g ma túy dạng “đá”, bị cáo đồng ý bán. Bị cáo gọi điện hẹn mua của đối tượng tên H 05g ma túy dạng “đá” với giá 2.500.000 đồng. Bị cáo báo giá bán cho đối tượng Đ là 2.700.000 đồng. Sau khi bị cáo mua được ma túy của đối tượng H, bị cáo đã cất giấu trong túi lynon đựng xôi treo ở xe máy. Bị cáo điều khiển xe đến nơi hẹn, nhưng chưa kịp giao ma túy cho đối tượng Đ và chưa kịp nhận tiền đã bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật là 4,956g Methamphetamnine. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Minh D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Minh D với mức án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 của Bộ luật dân sự; tịch thu, tiêu hủy ma túy; một sim điện thoại và một biển số xe máy 29K1-110.86; tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 5s màu trắng thu giữ của bị cáo do bị cáo sử đụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy; trả bị cáo 01 điện thoại Nokia 6700 và 01 điện thoại SamSung. Sung quỹ Nhà nước một xe máy nhãn hiệu VISON màu xanh.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét và trong quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn; đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi: Khoảng 19h00’ ngày 20/01/2018 đối tượng tên Đ gọi điện cho bị cáo hỏi mua 05g ma túy dạng “đá”, bị cáo đồng ý bán. Bị cáo gọi điện hẹn và mua của đối tượng tên H 05g ma túy dạng “đá” với giá 2.500.000 đồng. Bị cáo báo giá bán cho đối tượng Đ là 2.700.000 đồng. Sau khi bị cáo mua được ma túy của đối tượng H, bị cáo đã cất giấu trong túi lynon đựng xôi treo ở xe máy. Bị cáo điều khiển xe đến nơi hẹn, nhưng chưa kịp giao ma túy cho đối tượng Đ và chưa kịp nhận tiền đã bị Công an phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là 4,956g Methamphetamnine.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi bán ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lợi bị cáo vẫn bán ma túy trái phép. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng: Nhân thân bị cáo có một tiền án năm 2010 về tội cùng loại chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là Tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hi đồng xét xử căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo; căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tang vật:

- Ma tuý: Tịch thu, tiêu huỷ 4,956g Methamphetamine; ba sim điện thoại và một Biển số xe máy 29K1 - 110.86.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước một điện thoại Iphone 5s màu trắng là công cụ phạm tội.

- Chiếc xe máy nhãn hiệu VISON màu xanh có số khung: RLHJF3300CY141687, số máy: JF33E0141726, bị cáo khai mua của một người tên là Hải (không xác định được căn cước). Khi mua không lập giấy tờ và xe không có đăng ký. Như vậy chưa xác định được chủ sở hữu.

Vì vậy, ra thông báo công khai có thời hạn, nếu không có người nhận cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước; vì bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội.

Áp dụng hình phạt phụ theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước một điện thoại di động Nokia 6700 màu vàng và một điện thoại di động Sam Sung Galaxy A8 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: VŨ MINH D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: khon 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

3. Hình phạt:

Xử phạt: VŨ MINH D 06 (sáu) năm tù. Thi hạn tù tính từ ngày 21/01/2018.

4. Tang vật: Áp dụng Điều 47; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 228 của Bộ luật Dân sự.

a. Tịch thu, tiêu huỷ:

+ Một phong bì niêm phong bên trong có 01 túi nylon kích thước 4x6cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là Methamphetamine, giám định trọng lượng là:

4,956 gam; PC54 trích mẫu 0,195gam; còn lại 4,761 gam. Trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Vũ Minh D và giám định viên Nguyễn Hoàng H.

(Theo kết luận giám định số 920/KLGĐ-PC54 ngày 29/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong).

+ Ba sim điện thoại đã cũ;

+ Một biển số xe máy 29K1-110.86.

b. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

+ Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5s màu trắng, một điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A8 và một điện thoại di động Nokia 6700 màu vàng.

+ Đối với chiếc xe máy VISION giải quyết như sau: Trong thời hạn một năm kể từ ngày Chi cục thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm thông báo công khai mà không tìm được chủ sở hữu chiếc xe máy VISION màu xanh có số máy: JF33E0141726; số khung: RLHJF3300CY141687 (xe máy đã cũ, chất lượng hiện trạng không rõ), sẽ tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 29/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm).

5. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


72
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2018/HSST ngày 30/05/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:91/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về