Bản án 91/2017/HSST ngày 15/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 91/2017/HSST NGÀY 15/12/2017 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2017/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Đỗ Mạnh T (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1974; Nơi ĐKNKTT: Phường V , quận H , TP Hn; Nơi ở: Thôn 2, xã P, huyện T, Thành phố HN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 2/12; Con ông Đỗ Văn Kh và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Có vợ là Chu Thị T và có 02 con (con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997); Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ 01 tiền sự năm 2009 về cai nghiện bắt buộc do UBND huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội ra quyết định.

+ 01 tiền án năm 2001 về tội Trộm cắp tài sản, bị TAND huyện Thạch Thất xử phạt 12 tháng tù.

+ 01 tiền án năm 2008 về tội Trộm cắp tài sản, bị TAND huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù.

+ 01 tiền án năm 2012 về tội Đánh bạc, bị TAND huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội xử phạt 05 tháng tù;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội, số giam 4772P1/B16. Danh bản, chỉ bản số 249 lập ngày 08/92017 tại Công an huyện Thạch Thất.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Đỗ Thị Th, sinh năm 1983; vắng mặt; Trú tại: Cụm 5, xã T, huyện Ph, TP HN.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Chị Nguyễn Thị O , sinh năm 1994; vắng mặt;

Trú tại: Số 4, ngách 122/50 phường Vĩ , quận H , Thành phố H N ;

2.Anh Nguyễn Kim H , sinh năm 1981; vắng mặt;

Trú tại: Số 317 phố H , phường P , quận H , Thành phố HN;

* Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1994; vắng mặt; Trú tại: Thôn P , xã B , huyện T , Thành phố H;

2. Nguyễn Văn V, sinh năm 1984; vắng mặt;

Trú tại: Thôn Thái Hoà, xã B, huyện T , Thành phố H ;

3. Anh Lê Văn Q t, sinh năm 1988; vắng mặt; Trú tại: Thôn1, xã P , huyện T , Thành phố H;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 25/06/2017, Đỗ Mạnh T , sinh năm 1974 trú tại thôn 2, xã P , huyện T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA – MIO, BKS 60V4-6217 chở theo bạn gái là Nguyễn Thu H (Sinh năm 1994, trú tại xã T , huyện T , Thành phố H ) từ phòng trọ của chị H tại thôn Đầu Làng xã B, huyện T , Thành phố H đi chợ Nủa ở xã B , huyện T, TP H . Khi đi qua cửa hàng bánh kẹo Mai Lâm của anh Nguyễn Văn V tại thôn Thái Hòa, xã B, huyện T, Thành phố H, thấy có nhiều xe máy dựng ngoài đường mà không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau khi chở chị H về phòng trọ, T điều khiển xe máy MIO BKS 60V4-6217 quay lại cửa hàng Mai Lâm, dựng xe sát bãi để xe ngoài đường đối diện cửa hàng Mai Lâm, T quan sát thấy không có người trông coi nên đã lấy vam tự chế hình chữ T chuẩn bị trước, phá ổ khóa điện xe mô tô HONDA WAVE màu xanh, BKS 29V3-182.25 của chị Đỗ Thị T (Sinh năm 1983, trú tại xã T , huyện P ,Thành phố H ) rồi dắt xe ra ngoài nổ máy đi. T điều khiển xe mô tô Wave đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Lê Văn Q (Sinh năm 1988, trú tại thôn 1, xã P , huyện T , Thành phố H ), T dựng xe trước cửa rồi rồi sử dụng vam phá khóa mở cốp xe. Thủy lấy bộ phụ tùng sửa xe đựng trong túi ở trong cốp xe ra tháo BKS: 29V3-182.25 và tháo gương chiếu hậu, T mang BKS, gương chiếu hậu, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ và bộ phụ tùng sửa xe đựng trong túi dấu vào quán sửa xe của anh Q. Sau đó T đi về phòng trọ chở chị H quay lại nơi để xe máy MIO, nhờ chị H lấy và đi xe máy MIO về phòng trọ. Khoảng 11 giờ 30 ngày 25/06/2017 Thuỷ đi xe máy BKS: 29V3-182.25 đến nhà nghỉ Ven Đô ở xã Vân Côn, huyện Hoài Đức,Thành phố Hà Nội để gặp Nguyễn Tiến H (Sinh năm 1983, ở xã H , huyện T,Thành phố H) nhưng H đi vắng. Tại đây T  gặp Nguyễn Thị O (Sinh năm 1991, trú tại xã T , huyện T) cùng 2 con nhỏ của O. O đã nhờ T chở về nhà chồng ở phường V, quận H,Thành phố H. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T chở O cùng các con của O đến khu vực cầu V. O bảo T cho xuống xe để đi về nhà. T đã nhờ O bán hộ chiếc xe WAVE, và được O đồng ý. Sau đó O lấy xe đi liên lạc và bán xe mô tô Honda WAVE, BKS 29V3-182.25 cho Nguyễn Kim H (Sinh năm 1981, trú tại 317 P - H - H) được 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Sau khi nhận được tiền bán xe O cùng 02 con nhỏ đi sang khu vực huyện Gia Lâm - Hà Nội chơi và đã tiêu xài hết số tiền trên.

Ngày 28/06/2017 Đỗ Mạnh T đã đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Tang vật thu giữ, tạm giữ: 01 vam tự chế hình chữ T; 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-MIO, BKS: 60V4-6217 do Đỗ Mạnh T tự nguyện giao nộp.

Ngày 28/6/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thất tiến hành dẫn giải Đỗ Mạnh T đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Lê Văn Q ở thôn 1 Phùng Xá và đã thu giữ được: 01 (một) Biển kiểm soát xe mô tô BKS: 29V3- 182.25; 01 (một) gương chiếu hậu màu đen; 01 (một) túi đựng đồ sửa xe màu đen bên trong có 02 cờ lê, 01 kìm, 01 tròng xoáy ốc xe; 01(một)) mũ bảo hiểm màu đỏ có dòng chữ BXTEC.

Ngày 02/7/2017 Nguyễn Kim H tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, Số khung; 1214DY151419, số máy: C12E5151557.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/BB- HĐĐG ngày 10 tháng 07 năm 2017 của Hội đồng định giá huyện Thạch Thất xác định:

+ 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, Số khung; 1214DY151419, số máy: C12E5151557 đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 12.025.000đ (Mười hai triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

+ 01(một) mũ bảo hiểm màu đỏ có dòng chữ BXTEC được xác định giá tri còn lại là 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị số tài sản trên là: 12.145.000đ (Mười hai triệu, một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị T đã nhận lại xe máy Honda Wave và các tài sản khác của mình, chị Thương không có yêu cầu gì khác.

Anh Nguyễn Kim H không có yêu cầu gì đối với Nguyễn Thị O và Đỗ Mạnh T.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì kết luận giám định, kết luận định giá cũng như các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 88/VKS-CT ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H truy tố bị cáo Đỗ Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 138, ĐIều 33, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh T tõ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 vam phá khóa, trả lại bị cáo chiếc xe máy YAMAHA-MIO, BKS: 60V4-6217.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sơt nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sư vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản về việc người phạm tội, kết luận định giá, vật chứng của vụ án, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Đỗ Mạnh T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, T đã dùng vam tự chế phá ổ khóa điện và lấy đi xe mô tô Honda WAVE, BKS 29V3-182.25 cùng với mũ bảo hiểm treo trên xe của chị Đỗ Thị T (sinh năm 1983, trú tại xã T , huyện P,Thành phố Hà Nội), tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng trị giá 12.145.000đ (Mười hai triệu, một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn áp dụng nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự nguyện ra Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2, Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội không lớn nhưng nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản tuy nay đã được đương nhiên xóa án nhưng nay bị cáo cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, có khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung

Đối với Nguyễn Thu H là bạn gái của T, T không bàn bạc với H về việc đi lấy trộm tài sản và H không biết gì về hành vi trộm cắp tài sản của T. Vì vậy, Nguyễn Thị H không đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản với Đỗ Mạnh T. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý H trong vụ án là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị O khi được Đỗ Mạnh T nhờ bán xe O đã nhận lời và mang xe đi bán theo yêu cầu của T, O không hỏi T và không được T nói về nguồn gốc xe nên không có căn cứ để xử lý O về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên, cần truy thu của Nguyễn Thị O sổ tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) do bán xe mô tô 29V3-18225 mà có, do anh Nguyễn Kim H không có yêu cầu gì nên số tiền này sẽ được sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với Nguyễn Kim H do nhu cầu về phương tiện đi lại cá nhân và ham rẻ nên đã mua xe mô tô của Nguyễn Thị O mà không biết rõ nguồn gốc vì vậy, không có căn cứ để xử lý H  về tội tiêu thụ tải sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Lê Văn Q , khi bị cáo Đỗ Mạnh T đi xe Honda Wave đến cửa hàng, tháo BKS: 29V3- 18225, gương chiếu hậu và cất dấu BKS: 29V3-18225, mũ bảo hiểm, gương chiếu hậu và bộ phụ tùng sữa chữa xe máy tại cửa hàng của Q, Quyết không để ý và không biết việc T cất dấu số tang vật vào cửa hàng của mình. Vì vậy, Cơ quan điêu tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô Honda Wave màu xanh, sổ khung: 1214DY151419, số mảy: C12E5151557, 01 (một) Biển kiểm soát: 29V3-182.25;01(một) gương chiếu hậu màu đen; 01 (một) túi đựng đồ sửa xe màu đen bên trong có 02 cờ lê, 01 kìm, 01 (một) tròng xoáy ốc xe; 01 (một) mũ bảo hiêm màu đỏ có dòng chữ BKTEC. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Thất đã trả lại cho chị Đỗ Thị T là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) vam tự chế hình chữ T là tang vật, phương tiện bị cáo Đỗ Mạnh T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô MIO BKS: 60V4-6217 bị cáo Thủy khai nhận đã mua của chị Đỗ Thị T (Sinh năm 1975, trú tại thôn 2, Phùng Xá, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội) từ tháng 10/2016 là phương tiện đi lại của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Đỗ Thị T và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Đỗ MẠnh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 06/9/2017

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

-Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) vam tự chế hình chữ T;

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Mạnh T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA- MIO, BKS: 60V4-6217 (Theo biên bản giao nhận tang vật số 13/2018/THA ngày 08/12/2017 giữa Công an huyện Thạch Thất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất).

- Buộc Nguyễn Thị O nộp số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) do bán xe mô mtô 29V3-18225 mà có sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 ĐIều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Bị cáo Đỗ Mạnh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, Điều 234 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2017/HSST ngày 15/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:91/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thất - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về