Bản án 90/2019/HS-ST ngày 30/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 90/2019/HS-ST NGÀY 30/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lâm Duy A., sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Số X, đường Y, phường Z, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn S. và bà Nguyễn Thị Thu L.; hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Thái Thị Thúy Ng. và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2019 (có mặt);

- Bị hại:

1. Chị Lê Thị Ngọc Đ., sinh năm 1979; thường trú: Số X2, đường Y2, phường Z2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số X3, đường Y3, phường Z3, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

2. Công ty TNHH Dịch vụ T.; địa chỉ trụ sở: Số X4, đường Y4, phường Z4, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ chi nhánh: Số X3, đường Y3, phường Z3, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Dịch vụ Tân Phi Vân: Anh Lê Ph., sinh năm 1991 – Nhân viên; thường trú: Thôn A, xã B, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Số X5, đường Y5, phường Z5, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lương Thị Kim H., sinh năm 1988; thường trú: Số X6, đường Y6, phường Z6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số X7, đường Y7, phường Z7, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 04/4/2019, Lâm Duy A. lên sân thượng nhà mình tại số X, đường Y, phường Z, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh để hóng mát thì thấy nhà số X3, đường Y3, phường Z3 cách nhà Duy A. 03 căn (trụ sở Công ty TNHH Dịch vụ T.) có nóc nhà san sát và có thể trèo qua được. Do đang không có việc làm và cần tiền tiêu xài nên Duy A. nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài.

Lâm Duy A. leo qua sân thượng các nhà liền kề và lên nóc nhà số X3, đường Y3, phường Z3, quận Tân Phú. Sau đó, Duy A. đi xuống ban công bằng thang sắt. Do cửa ban công không khóa nên Duy A. đã đột nhập vào nhà và dùng đèn pin của điện thoại di động hiệu Nokia 3110 soi tìm tài sản ở tầng 3, tầng 2 và tầng 1 nhưng không thấy gì. Sau đó, Duy A. đi xuống phòng khách tầng trệt thấy có 01 dãy bàn làm việc với các ngăn tủ không khóa. Duy A. mở các ngăn tủ và lấy trộm số tiền 15.250.000 đồng. Duy A. bỏ xấp tiền trên vào túi quần phía trước bên trái rồi tiếp tục mở ngăn kéo và lấy trộm 01 con heo đất màu xanh, 01 mắt kính hiệu Rayban màu đen (của chị Lê Thị Ngọc Đ. – Phó giám đốc Công ty). Trong khi leo qua nóc các nhà liền kề, Duy A. đập con heo đất lấy được 750.000 đồng bên trong và sau đó về nhà ngủ.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Duy A. thức dậy và lấy tiền trộm được cho cha, mẹ là ông Lâm Văn S. và bà Nguyễn Thị Thu L. mỗi người 2.000.000 đồng và nói là tiền do chơi game bắn cá thắng được. Sau đó, Duy A. lấy 7.000.000 đồng và mắt kính hiệu Rayban đi đến tiệm game bắn cá, địa chỉ số X8, đường Y8, phường Z8, Quận 6 và dùng 4.900.000 đồng để chơi bắn cá. Tại tiệm game, Duy A. gặp Tuấn (không rõ lai lịch), biết Tuấn cầm xe hết 2.100.000 đồng nên Duy A. cho Tuấn 2.100.000 đồng để chuộc xe từ chị Lương Thị Kim H. (quản lý tiệm game bắn cá) rồi đi về nhà. Đến tối cùng ngày thì Công an phường Z, quận Tân Phú mời Lâm Duy A. về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Lâm Duy A. thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 02/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận Tân Phú thì: Mắt kính hiệu Rayban màu đen do không rõ mẫu mã, kiểu dáng của mắt kính nên không có đủ cơ sở để xác định giá trị của tài sản.

Qua làm việc, ông Lâm Văn S. và bà Nguyễn Thị Thu L. (cha mẹ của bị cáo Duy A.) khai nhận: Vào sáng ngày 04/4/2019, Duy A. có cho ông S. và bà L. mỗi người 2.000.000 đồng và nói số tiền đó do chơi bắn cá thắng được. Ông S. và bà L. không biết nguồn gốc số tiền trên do Duy A. phạm tội mà có. Ông S. và bà L. đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không có cơ sở để xử lý đối với ông S., bà L.

Chị Lương Thị Kim H. khai nhận: Duy A. có đưa số tiền 2.100.000 đồng để chuộc xe cho Tuấn, chị H. không biết số tiền trên do Duy A. phạm tội mà có. Chị H. đã tự nguyện nộp lại cho Cơ quan điều tra nên không có cơ sở để xử lý đối với chị H.

- Về phần trách nhiệm dân sự: Ngày 30/5/2019, ông Lâm Văn S. theo yêu cầu của Duy A. đã bồi thường cho Công ty TNHH Dịch vụ T. số tiền 4.900.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Dịch vụ T. là anh Lê Ph. số tiền 11.100.000 đồng. Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Dịch vụ T. và chị Lê Thị Ngọc Đ. không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn bãi nại cho bị cáo Lâm Duy A.

Vt chứng vụ án:

- Số tiền 11.100.000 đồng (trong đó 5.000.000 đồng do Lâm Duy A. tự nguyện giao nộp; 4.000.000 đồng do ông S. và bà L. giao nộp; 2.100.000 đồng do chị Lương Thị Kim H. giao nộp) đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Lê Ph. – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự.

- 01 (một) cái mắt kính nữ hiệu Rayban màu đen, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Ngọc Đ.. Chị Đ. không có yêu cầu gì thêm.

- 01 (một) bộ quần áo gồm áo thun ngắn tay màu xanh, quần thun ngắn màu đen (thu giữ của Lâm Duy A.).

- 01 (một) con heo đất màu xanh bị vỡ.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 3110 màu đen, số Imei: 357141069356468.

Tại Bản cáo trạng số: 82/CT-VKSQ.TP ngày 17/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Duy A. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lâm Duy A. từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2019.

Về phần trách nhiệm dân sự do bị hại không có yêu cầu nên không xét. Về phần xử lý vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Duy A. thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 04/4/2019, Lâm Duy A. đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 16.000.000 đồng của Công ty TNHH Dịch vụ T. và 01 cái mắt kính hiệu Rayban của chị Lê Thị Ngọc Đ. (Phó giám đốc công ty). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Lâm Duy A. theo Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Bị cáo Duy A. đã trộm cắp số tiền 16.000.000 đồng. Và theo Kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 02/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận Tân Phú thì: Mắt kính hiệu Rayban màu đen do không rõ mẫu mã, kiểu dáng của mắt kính nên không có đủ cơ sở để xác định giá trị của tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lâm Duy A. phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo Lâm Duy A. tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại là chị Đ. và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Dịch vụ T. đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Duy A..

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hi đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lâm Duy A..

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại là Công ty TNHH Dịch vụ T. và chị Lê Thị Ngọc Đ. đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 11.100.000 đồng (trong đó 5.000.000 đồng do Lâm Duy A. tự nguyện giao nộp; 4.000.000 đồng do ông S. và bà L. tự nguyện giao nộp; 2.100.000 đồng do chị Lương Thị Kim H. tự nguyện giao nộp) đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Lê Ph. – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự. Công ty TNHH Dịch vụ T. không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

- 01 (một) cái mắt kính nữ hiệu Rayban màu đen, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Ngọc Đ.. Chị Đ. không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

- 01 (một) bộ quần áo gồm áo thun ngắn tay màu xanh, quần thun ngắn màu đen (thu giữ của Lâm Duy A.). Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) con heo đất màu xanh bị vỡ. Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 3110 màu đen, số Imei: 357141069356468. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo Lâm Duy A. phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lâm Duy A. phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Lâm Duy A. 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2019.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lâm Duy A.. [3] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ quần áo gồm áo thun ngắn tay màu xanh, quần thun ngắn màu đen (thu giữ của Lâm Duy A.); 01 (một) con heo đất màu xanh bị vỡ.

Tch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 3110 màu đen, số Imei: 357141069356468.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 141/PNK ngày 24/4/2019 của Công an quận Tân Phú).

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lâm Duy A. phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HS-ST ngày 30/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:90/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Phú - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về