Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khối A, thị trấn HN, huyện HN, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1967. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm ĐT 2, phường HH, thị xã TH, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: MerSebung CHLB Đức. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có xác nhận của Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại CHLB Đức ngày 12/6/2019).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An vào ngày 12/12/2013. Sau khi kết hôn được hơn 1 tháng thì anh S trở lại CHLB Đức làm việc, chị Hà ở lại Việt Nam. Thời gian đầu anh S còn liên lạc, đến năm 2015 thì ly thân và cắt đứt liên lạc với nhau nguyên nhân quan điểm sống khác nhau, do chênh lệch tuổi tác và sồng xa nhau không quan tâm, chăm sóc đến nhau dẫn đến tình cảm ngày càng nhạt phai. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hoàng Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Thái S.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Thái S: Ngày 12/6/2019, anh Nguyễn Thái S gửi bản tự khai (có xác nhận của Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức) trình bày: Anh S thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị Hoàng Thị H trình bày. Do vợ chồng không sống chung với nhau nên không còn tình cảm. Chị Hoàng Thị H làm đơn xin ly hôn thì anh Nguyễn Thái S đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản và nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại anh Nguyễn Thái S đang sinh sống và làm việc tại CHLB Đức nên không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết vụ án ly hôn. Anh S đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án vắng mặt anh S. Các văn bản của Tòa án đề nghị gửi cho bố là ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1939. Địa chỉ: XA, xã HL, thành phố V, tỉnh Nghệ An và ông H sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho anh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Thái S hiện đang ở nước ngoài, do không có điều kiện về nước nên ngày 12/6/2019 gửi bản tự khai, đơn xin xử vắng mặt (có xác nhận của Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại CHLB Đức) trình bày quan điểm về việc giải quyết ly hôn với chị Hoàng Thị H và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S là tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn được hơn một tháng thì anh S tIếp tục sang CHLB Đức sống và làm việc. Thời gian đầu còn quan tâm đến nhau, từ năm 2015 thì chị H và anh S cắt đứt liên lạc, không quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng dần mất đi. Chị H, anh S đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị H, anh S mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị H và anh S được ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị H, anh Nguyễn Thái S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 37, Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S.

2. Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Thái S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Hà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000983 ngày 18/01/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Hoàng Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn chị Hoàng Thị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Thái S vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 14/08/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 14/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về