Bản án 89/2020/HSST ngày 16/07/2020 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 89/2020/HSST NGÀY 16/07/2020 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Gia Th, sinh năm 1984 tại Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ X, Khu Y, phường NT, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Huy Th1 và bà Kim Thị H; Vợ: Hà Thị Đ; Con: 02 con, con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo bị bắt từ ngày 16/12/2019, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1995;Nơi cư trú: Khối Z, xã PL, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội (có mặt).

*Người bào chữa cho bị cáo Th: Bà Nguyễn Thị H1 - Luật sư Văn Phòng luật sư Nguyễn Anh- Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 25/6/2019, Hoàng Gia Th điều khiển xe taxi nhãn hiệu Huyndai i10, BKS 19A-222.53 chở anh Hoàng Anh T và vợ con đi từ thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đến Sân bay Nội Bài. Đến khoảng 07h41, Th dừng xe tại sảnh E tầng 2 nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài cho gia đình anh T vào làm thủ tục bay. Sau khi xách đồ vào trong quầy cho gia đình anh T, Th quay lại ô tô đợi anh T. Lúc này, anh Nguyễn Văn C là nhân viên Đội an ninh kiểm soát sân đỗ ô tô – Trung tâm an ninh hàng không Nội Bài đang thực hiện nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự và hướng dẫn phân luồng giao thông tại tầng 2, nhà ga T1 sân bay quốc tế Nội Bài phát hiện xe ô tô của Th dừng đỗ không đúng quy định, anh C đến nhắc nhở và hướng dẫn Th di chuyển xe xuống bãi đỗ xe theo quy định nhưng Th không chấp hành. Anh C tiếp tục yêu cầu Th cho xe di chuyển xuống bãi đỗ xe, nếu không chấp hành sẽ khóa bánh xe thì Th nói “tôi được đỗ và đón khách ở đây”. Thấy vậy, anh C đi lấy dụng cụ khóa bánh xe quay lại thì Th điều khiển xe lùi ngược chiều về phía trước cửa sảnh A. Anh C cầm khóa đi ra phía sảnh A thì Th điều khiển xe theo hướng sảnh E, nghĩ là Th đã đi, anh C cất dụng cụ khóa bánh xe vào nơi quy định. Sau đó, anh C phát hiện Th đang đỗ xe trái quy định ở cuối sảnh E nên đã phối hợp cùng anh Vương Mạnh H2 là nhân viên Trung tâm an ninh hàng không đang làm nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự trong sảnh E đến nhắc nhở, giải thích nhưng Th không chấp hành và có lời nói chống đối, thách thức. Thấy vậy, anh C đi lấy dụng cụ khóa bánh xe, còn anh H2 tiếp tục giải thích. Khi thấy anh C quay lại cùng với dụng cụ khóa bánh xe, Th lên xe và hạ kính xuống chửi rồi điều khiển xe đi thẳng chậm. Sau đó, Th lùi xe lại, xuống xe, tay phải cầm 01 con dao phay chỉ về phía anh C thách thức “chúng mày có giỏi thì nhảy vào đây, mày có biết tao là ai không, tao có quyền sinh sát đấy ...”. Thấy Th cầm dao nguy hiểm, anh C lùi lại, đồng thời gọi đàm tăng cường thì Th lên xe bỏ chạy và bị bắt giữ tại Trạm thu phí nhà ga T1.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 19/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Hoàng Gia Th về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 166/KLGĐ ngày 08/5/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương – Bộ Y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Hoàng Gia Th có bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (bệnh ở giai đoạn ổn định). Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F31.0. Tại các thời điểm trên Th đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai: Sáng ngày 25/6/2019 bị cáo điều khiển xe taxi BKS 19A-222.53 chở gia đình anh T xuống sân bay Nội bài làm thủ tục bay. Bị cáo đỗ xe ở làn dừng tại khu vực sảnh E tầng 2 nhà ga T1 chờ anh T về cùng. Bị cáo biết không được dừng đỗ quá 5 phút nhưng do phải chờ anh T nên bị cáo cho xe dừng đỗ 2-3 điểm, mỗi điểm không quá 5 phút. Khi anh C là nhân viên an ninh hàng không ra nhắc nhở nhiều lần và còn mang gông khóa bánh định khóa xe của bị cáo, bị cáo nghĩ anh C phá dối, gây sự nên bị cáo cầm 01 con dao phay chỉ về phía anh C để dọa nhằm ngăn cản anh C khóa bánh xe, bị cáo không chống đối và không phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C trình bày: Ngày 25/6/2019, anh được phân công làm nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự và phân luồng giao thông tại tầng 2 nhà ga T1 sân bay Quốc tế Nội Bài thời gian từ 04h30 đến 11h30 cùng ngày. Khi thực hiện nhiệm vụ, anh phát hiện chiếc xe taxi BKS 19A-222.53 do bị cáo Th điều khiển đang đỗ sai quy định tại lề đường giữa sảnh A và E tầng 2 nhà ga T1, anh đến nhắc nhở và hướng dẫn Th lái xe ra ngoài nhiều lần nhưng Th không chấp hành và có lời lẽ chửi bới, thách thức, chống đối. Khi anh mang gông khóa bánh xe đến thì Th cầm 01 con dao phay dài 45cm chỉ về phía anh dọa “Mày khóa xe, tao chém chết”. Thấy nguy hiểm anh không tiến lại gần và gọi đàm tăng cường lực lương. Anh không bị thương tích hay thiệt hại gì và không yêu cầu bồi thường về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Th, Luật sư Nguyễn Thị H1 trình bày: Về tội danh, hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Th là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức (điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); do bị hạn chế về mặt nhận thức nên bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo không phạm tội nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự); đồng thời bố bị cáo là người có công với cách mạng, mẹ bị cáo được tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam” và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình (khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt bằng thời gian bị cáo đã tạm giam để bị cáo sớm trở về với gia đình, có điều kiện chữa bệnh và cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Hoàng Gia Th mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra phát hiện Hoàng Gia Th có biểu hiện tâm thần đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 17 ngày 26/12/2019 (BL 111), nhưng khi chưa có kết quả giám định vẫn tiếp tục điều tra là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngày 03/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 03/2020/HSST-QĐ (BL 211). Mặc dù Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã thực hiện theo quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, chỉ định người bào chữa cho bị cáo Th (BL 214), nhưng tại Công văn số 81/CV-VKS ngày 19/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn khi chuyển lại hồ sơ cho Tòa án đã nhận định “Tòa án trả hồ sơ là vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 13 Thông tư số 02/2017/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA- BQP ngày 22/12/2017”. Nhận định như trên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là không có căn cứ, vi phạm điểm b khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 10 Thông tư số 02/2017/TTLT- VKSNDTC- TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 và Thông tư số 34/2013/TT-BYT ngày 28/10/2013 của Bộ Y tế.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi cầm dao nhằm đe dọa không cho nhân viên an ninh hàng không sân bay Nội Bài khóa bánh xe nhưng bị cáo không thừa nhận hành vi của mình là trái pháp luật. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Từ khoảng 07h41p22 đến 07h55p ngày 25/6/2019 tại tầng 2 nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài, Hoàng Gia Th điều khiển xe ô tô BKS 19A-222.53 dừng, đỗ vi phạm quy định về quản lý hoạt động và khai thác sân đỗ ô tô tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Phát hiện xe vi phạm, anh Nguyễn Văn C - nhân viên Đội an ninh kiểm soát sân đỗ đang thi hành nhiệm vụ đến nhắc nhở, giải thích, hướng dẫn Th di chuyển xe ra ngoài nhiều lần nhưng Th không chấp hành mà điều khiển xe dừng, đỗ tại các vị trí khác 03 lần trong phạm vi cấm dừng, đỗ của nhà ga, đồng thời có lời nói, Th độ chống đối, thách thức. Khi anh C mang gông khóa bánh xe ô tô đến nhằm mục đích răn đe, yêu cầu Th di chuyển xe xuống dưới để đảm bảo an toàn giao thông trên hành lang tầng 2 nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài, Th đã dùng dao đe dọa, cản trở anh C thực hiện nhiệm vụ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Hoàng Gia Th về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây mất trật tự trị nơi xảy ra tội phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín, cản trở việc thực hiện nhiệm của người thi hành công vụ. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố bị cáo là người có công với cách mạng, mẹ bị cáo được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam”; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đó là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm i, q khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo quanh co, chối tội nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, nhưng sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, đồng thời bị cáo không nhận thức được hành vi cản trở, chống đối, thách thức và dùng dao đe dọa đối với anh C, người đang thực hiện nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự, đảm bảo an toàn giao thông tại khu vực Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là nguy hiểm cho xã hội, quanh co, chối tội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhưng chỉ cần áp dụng mức hình phạt bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy cần áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[3]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh C không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn thu giữ của bị cáo 01 con dao. Xét đây là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH1 vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, q khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử phạt Hoàng Gia Th 07 (bảy) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH1 vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về