Bản án 89/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 89/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 71/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 2 năm 2019, về việc: “Yêu cầu ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 28/6/2019, quyết định hoãn phiên toà số: 70/2019/QĐST-HNGĐ ngày: 16/7/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1980 – ( Có mặt ).

HKTT: tổ 2, ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Hoàng Trọng T, sinh năm: 1972 – ( Vắng mặt ).

HKTT: tổ 2, ấp BA, xã BC, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2019, bản khai, biên bản về việc không tiến hành hoà giải được trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên toà. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày: chị S kết hôn với anh T vào tháng 12/2003 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Châu, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có tổ chức lễ cưới, trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã hoà giải, giàn xếp với nhau nhiều lần nhưng không được.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị S yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: có 02 con chung là: Hoàng Trọng T, sinh ngày: 02/8/1997 và Hoàng Trọng N, sinh ngày: 25/10/2004. Hiện nay cháu T đã trưởng thành, còn cháu N đang sống cùng với cùng với chị S và anh T. Nếu ly hôn chị S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: chị S và anh T tự thoả thuận giải quyết với nhau, chưa yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị S vẫn giữ nguyên ý kiến: Yêu cầu ly hôn với anh T, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Chưa yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Anh Hoàng Trọng T dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay anh T vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Yêu cầu của chị S là không có căn cứ, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật, yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị S ly hôn với anh Hoàng Trọng T. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị S và anh T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 06 ) nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị S trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi lộn, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã hoà giải, giàn xếp với nhau nhiều lần nhưng không được. Tuy nhiên cho đến nay chị S và anh T vẫn ăn chung, ở chung một nhà. Điều này được chính chị S thừa nhận tại phiên toà hôm nay và cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương (Bút lục số: 32). Anh T vẫn lo làm ăn để chăm lo cho vợ con, không có uống rượu, đánh bài, không đánh đập ngược đãi chị S. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị S và anh T chưa đến mức trầm trọng, mâu thuẫn gia đình còn có thể hàn gắn được. Vì vậy, việc chị S yêu cầu ly hôn với anh T là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận, nên bác yêu cầu của chị S.

[3] Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị S phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

[1]. Bác đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn của chị Nguyễn Thị S đối với anh Hoàng Trọng T.

[2] Về án phí: chị S phải nộp 300.000Đ (Ba trăm ngàn) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ (Ba trăm ngàn) mà chị S đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006635 ngày 22/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Chị S đã nộp đủ án phí.

[3] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


38
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 89/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về yêu cầu ly hôn

      Số hiệu:89/2019/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:02/08/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về