Bản án 89/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 89/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 133/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thu H, sinh năm 1986.

Hộ khẩu thường trú: Số 23, Tổ 1, Ấp 6, xã PB, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ tạm trú: Số 1071, Tổ 1, Ấp 1, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1985.

Hộ khẩu thường trú: Số 23, Tổ 1, Ấp 6, xã PB, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. (Nguyên đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 01 năm 2018, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình T kết hôn tự nguyện năm 2009, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã PB, huyện LT, tỉnh Đồng Nai (sau đây gọi tắt là UBND xã PB). Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016, chị và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn hai vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T và chị bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Chị cũng xác định chị và anh T đã ly thân từ tháng 2 năm 2017 và cũng thời gian này chị đã về nhà mẹ ruột của chị sinh sống tại địa chỉ Số 1071, Tổ 1, Ấp 1, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Đình Lê T, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2011. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Nguyễn Đình T trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh T thông báo thụ lý vụ án trong đó nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Đình T nhiều lần nhưng anh Nguyễn Đình T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

3. Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:

+Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong việc xác định thẩm quyền, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn được đảm bảo quyền lợi và chấp hành pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

+Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thu H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình Lê T, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2011 cho chị H nuôi dưỡng, tạm thời anh Nguyễn Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án xét xử vắng mặt chị Lê Thu H và anh Nguyễn Đình T.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thu H và anh Nguyễn Đình T kết hôn tự nguyện năm 2009 và đăng ký tại UBND xã PB theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 25 Quyển số 01/2009 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Lê Thu H thì từ năm 2016 đến nay chị H và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn hai vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T và chị H bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Chị H xác định chị H và anh T đã ly thân từ tháng 2 năm 2017 và cũng thời gian này chị H đã về nhà mẹ ruột của chị sinh sống tại địa chỉ Số 1071, Tổ 1, Ấp 1, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.

Tại biên bản lấy lời khai bà Phan Thị Băng Thu, sinh năm 1962 – mẹ ruột của anh Nguyễn Đình T thì bà xác định giữa anh T và chị H có mâu thuẫn quan hệ hôn nhân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T, chị H bất đồng quan điểm sống với nhau nên chị H đã về nhà mẹ ruột của chị sinh sống tại địa chỉ Số 1071, Tổ 1, Ấp 1, xã LA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai từ đầu năm 2017.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh Nguyễn Đình T biết để đến làm việc cũng như tham gia hòa giải hôn nhân giữa chị Lê Thu H và anh Nguyễn Đình T nhưng anh T vắng mặt không tham gia nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, điều này cũng thể hiện anh T không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Lê Thu H.

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là có mâu thuẫn trầm trọng, anh T và chị H đã ly thân với nhau nên anh chị đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, không còn giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là hoàn toàn có cơ sở nên chấp nhận theo quy đinh tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Đình Lê T, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2011. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu T đang sinh sống ổn định cùng chị H. Hiện tại chị H có công việc thu nhập ổn định, có khả năng nuôi con và theo nguyện vọng của cháu T là mong muốn được ở cùng chị H nên khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi cháu T là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Lê Thu H đối với anh Nguyễn Đình T. Xử cho chị Lê Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Đình T.

2. Về con chung: Nguyễn Đình Lê T, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2011 cho chị Lê Thu H nuôi dưỡng, tạm thời anh Nguyễn Đình T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn anh Nguyễn Đình T có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Trong trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của anh T. Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thu H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 005472 ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành (chị H đã nộp xong).

5. Chị H và Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

172
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 89/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:89/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về