Bản án 86/2020/DSST ngày 26/08/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 86/2020/DSST NGÀY 26/08/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:19/2020/TLST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2020về việc“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1026/2020/QĐXX-DS ngày 29 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1255 /2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 20120 của TAND huyện T, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T1- Chủ tịch hội đồng quản trị. Địa chỉ: 130 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình T2- Giám đốc phòng giao dịch Phú Tài, đại diện theo văn bản ủy quyền thường xuyên ngày 21/05/2016.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Võ Văn Th, sinh năm 1993 – Nhân viên phát triển kinh doanh – đại diện theo ủy quyền lại tại văn bản ủy quyền ngày 17/7/2019.

Địa chỉ: Tổ 5, khu vực 9, P. Tr, TP.Q, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th1, sinh 1981, vắng mặt. Địa chỉ: Thôn H, xã P1, H.T, tỉnh Bình Định. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Ngọc H1, sinh 1976, vắng mặt Địa chỉ: Thôn H, xã P1, H. T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khỏi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ do ông Võ Văn Th đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 24/4/2017 bà vợ chồng bà Nguyễn Thị Th1 và ông Lê Ngọc H1 có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ – Phòng giao dịch Phú Tài theo hợp đồng số 0129827001T16038, ngày 25/4/2016 với số tiền 20.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất gộp 11%/ năm, mục đích vay kinh doanh, tài sản đảm bảo tín chấp, thời han trả ngày 04/2/2017, số tiền trả góp hàng tháng là 2.000.000đồng, trong 11 tháng đầu và tháng cuối 200.000đồng. Như vậy bà Th1 ông H1 phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc là 20.000.000đồng và tiền lãi 2.200.000đồng. Đến ngày 03/12/2019 vợ chồng bà Th1 mới chỉ trả 16.000.000đồng, trong đó trả tiền gốc14.036.119đđồng, tiền lãi trong hạn 1.889.745 đồng, lãi quá hạn 74.136đ. Đến nay khoản vay vốn nói trên đã quá thời hạn thanh toán kể từ ngày 25/4/2017 và Ngân hàng đòi nhiều lần nhưng vợ chồng bà Th1 ông H1 không trả. Nay đại diện Ngân hàng yêu cầu bà Th1 ông H1 trả số tiền gốc là 5.963.881đồng, tiền lãi trong hạn là 310.255đồng, lãi quá hạn 3.321.136 đồng tính đến ngày 26/08/2020, tổng cộng gốc và lãi là: 9.595.272đồng và lãi phát sinh đến khi trả hết nợ vay với lãi suất quá hạn 16,5%/ năm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Th1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Ngọc H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng bà Th1 ông H1 trả nợ cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ và lãi phát sinh theo hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản nên căn cứ vào Điều 26 BLTTDS thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn H, xã P1, huyện T, tỉnh Bình Định nên căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu bà Nguyễn Thị Th và ông Lê Ngọc H1 phải trả cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ là 9.595.272đồng cộng lãi phát sinh theo hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 16/4/2016, sao kê hoạt động của khách hàng từ ngày 25/4/2016 đến ngày 31/10/2019, biên bản làm việc thì bà Nguyễn Thị Th1 đã vay Ngân hàng TMCP Đ 20.000.000đồng và ông Lê Ngọc H1 là chồng ký bảo lãnh. Bà Th1, ông H1 đã trà số tiền vay là 16.000.000đồng ( trong đó gốc14.036.119đồng, tiền lãi trong hạn 1.889.745đồng, lãi quá hạn 74.136đ), hiện nay còn nợ số tiền gốc là 5.963.881đồng, tiền lãi trong hạn là 310.255đồng, lãi quá hạn 3.321.136đồng tính đến ngày 26/08/2020 tổng cộng gốc và lãi là: 9.595.272đồng nên Ngân hàng yêu cầu bà Th1, ông H1 trả nợ là có căn cứ nên được chấp nhận. Bỡi vì bà Th1 vay, ông H1 là chồng bà Th1, việc bà Th1 vay nợ phục vụ cho nhu cầu gia đình, ông H1 ký bảo lãnh nên căn cứ vào Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình thì ông H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cùng bà Th1 đối với khoản vay trên.

Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định cuả Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3]Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th1 và ông Lê Ngọc H1 cùng phải chịu 479.000đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003422 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463,466,468,470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Buộc bà Nguyễn Thị Th1 và ông Lê Ngọc H1 cùng phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền vay còn nợ là 9.595.272đồng (trong đó tiền gốc là 5.693.881đồng, tiền lãi trong hạn là 310.255đồng, lãi quá hạn 3.321.136đồng tính đến ngày 26/08/2020) và tiền lãi phát sinh theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 16/4/2016 của bà Nguyễn Thị Th1.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành. Nếu bên phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ đã tuyên thì bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi suất theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 16/4/2016của bà Nguyễn Thị Th1 Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th1 và ông Lê Ngọc H1 cùng phải chịu 479.000đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003422 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy đinh tại điêu 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6.7 và 9 luật thi hành án dân sự ,thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2020/DSST ngày 26/08/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:86/2020/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tây Sơn - Bình Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về