Bản án 86/2018/HS-ST ngày 23/11/2018 về tội cướp giật tài sản

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 86/2018/HS-ST NGÀY 23/11/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở nH văn hóa khu dân cư LĐ, phường CH, thị xã C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số 70/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2018/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1989.

Nơi ĐKNKTT: Khu 1, phường HĐ, thị xã ĐT, tỉnh QN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr (đã chết) và bà Bùi Thị L; có vợ là Trần Thị Thùy T và 01 con; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 111/2013/HSST ngày 15-5-2013 bị tòa án nhân dân tHnh phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm 09 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; chống người thi Hnh công vụ. T chấp Hnh xong phần án phí dân sự ngày 15-5-2013, chấp Hnh xong hình phạt tù ngày 08/9/2017; bị tạm giam từ ngày 02/9/2017 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1989.

Nơi ĐKNKTT: Khu 2, phường HĐ, thị xã ĐT, tỉnh QN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị B; có vợ là Đỗ Thu H; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 248/HSST ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân tHnh phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 30-4-2010 chấp Hnh xong hình phạt tù, ngày 12-11-2007 thi Hnh xong phần án phí hình sự sơ thẩm; Bản án số 95/2013/HSPT ngày 25/7/2013 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 15-11-2013 thi Hnh xong phần án phí dân sự, ngày 31/8/2015 thi Hnh xong phần hình phạt; bị tạm giữ từ ngày 02-4-2018; bị tạm giam từ ngày 06-4-2018.

( Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

1. Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số nH 22, đường ND, khu dân cư TH 3, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương.

2. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu dân cư CN 1, phường CH, thị xã C, tỉnh Hải Dương.

3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Số nH 42 TBT, khu dân cư TH 2, phường S, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Xuân H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số 233, đường HX, Tiểu khu 6, thị trấn YC, huyện YC, tỉnh Sơn La (vắng mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

1. Chị Đỗ Thu H, sinh năm 1992 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn TT, xã BD, thị xã ĐT, tỉnh QN.

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu dân cư TM, phường TH, thị xã C, tỉnh Hải Dương.

3. Anh Mạc Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn TN, xã AL, thị xã C, tỉnh Hải Dương.

4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn VT, xã CV, huyện CG, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Do có quen biết nhau từ trước, đầu tháng 03/2018 Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H cùng rủ nhau đi cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trưa ngày 09/3/2018, T gọi điện rủ H đi làm (ý là đi cướp giật tài sản), H trả lời khi nào đi thì sẽ gọi. Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, H điện thoại cho T bảo ra siêu thị “Lan Chi” ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Khi ra H mang theo 02 mũ bảo hiểm thì gặp T đi xe BKS14Y1-008.34. H điều khiển xe máy chở T đi sang thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày khi đến ngã 3 Sao Đỏ, H rẽ về theo hướng đi Nam Sách, qua lối đi vào cổng chợ Sao Đỏ, H thấy phía bên đường ngược chiều trước cửa số nH 121, khu dân cư TH 1, phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh có chị Hoàng Thị Hg đang xuống xe ô tô từ cửa phía sau bên trái và cầm theo 01 chiếc Ti xách nhãn H Michael Kors màu vàng kem. Thấy chị Hg đi sang phía phải của xe để đón con ở cửa sau thì H điều khiển xe máy đi ngược chiều xe ô tô áp sát vào bên phải người chị Hg, T ngồi sau dùng tay phải giật túi xách của chị Hg sau đó H tăng ga bỏ chạy. Cả hai về thôn Trung Tâm, xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh lục soát túi xách thì thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 6, 01 chiếc điện thoại iphone 6S Plus và 1.000.000đ cùng giấy CMND và thẻ ATM ngân Hng của chị Hg. H lấy 02 điện thoại cất vào túi quần, tiền H và T mỗi người chia nhau 500.000đ chi tiêu cá nhân hết. Còn chiếc túi xách và toàn bộ giấy tờ, thẻ ATM của chị Hoàng Thị Hg, T và H đốt cháy rồi lên xe đi về Đông Triều. Hai chiếc điện thoại khi mở được khóa H dùng 01 chiếc Iphone 6, còn chiếc Iphone 6S Plus H đưa cho vợ là Đỗ Thị H sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 251 ngày 06/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã C kết luận: 01 chiếc túi xách nhãn hiệu Michael Kors màu vàng kem đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 09/3/2018 có trị giá 2.000.000đ; 01 chiếc điện thoại Iphone 6 vỏ màu vàng dung lượng 64GB tại thời điểm ngày 09/3/2018 có trị giá 5.000.000đ; 01 chiếc điện thoại Iphone 6s plus vỏ màu vàng dung lượng 128GB tại thời điểm ngày 09/3/2018 có trị giá 8.500.000đ; 01thẻ rút tiền ATM của ngân Hng TMCP ngoại thương Việt Nam có trị giá 50.000đ; 01 thẻ rút tiền ATM của ngân Hng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam có trị giá 50.000đ; 01 sim điện thoại Viettel có trị giá 50.000đ; 01 sim điện thoại Mobifone có trị giá 50.000đ. Tổng trị giá các tài sản là: 15.700.000đ.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 05/3/2018, Nguyễn Văn T gọi cho thoại cho Nguyễn Văn H hỏi “có đi làm không” ý nói có đi cướp giật không, H trả lời: “nếu đi được tao gọi”. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H điện thoại cho T ra siêu thị “Lan Chi”, T đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn H YAMAHA Exciter, màu đỏ trắng BKS 14Y1-008.34và đội mũ bảo hiểm loại trùm kín đầu, màu xám. Đến nơi T gặp H đang cầm theo mũ bảo hiểm, loại mũ trùm kín đầu. Sau đó H cầm lái chở T đi sang khu vực thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương với mục đích xem ai có tài sản sơ hở sẽ cướp giật. Khoảng 19 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực lối rẽ vào cổng chợ Sao Đỏ, phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, H và T phát hiện chị Trần Thị Thu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead đi cùng chiều, trên xe chị H để chiếc túi xách màu đỏ để trên một thùng hàng ở chỗ để chân phần trước xe. H giảm ga cho xe đi chậm lại phía sau chị H, khi đến đoạn đường trước số nhà 204, khu dân cư TH 2, phường Sao Đỏ, thì H điều khiển xe đi áp sát bên trái xe của chị H, T ngồi phía sau xe dùng tay phải giật chiếc túi xách màu đỏ của chị H. Sau đó H tăng ga xe bỏ chạy về thôn Trung Tâm, xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh, cả hai lục soát chiếc túi vừa giật được của chị H thì thấy bên trong có: 01 ví da nữ loại ví cầm tay, trong ví có số tiền 4.000.000đ; 01 giấy phép lái xe; 01 đăng ký xe máy; 01 chứng minh thư nhân dân đều mang tên Trần Thị Thu H. T, H lấy số tiền còn giấy tờ, ví, túi xách của chị H đốt cháy. Số tiền lấy được cả hai chia nhau mỗi người 2.000.000đ chi tiêu cá nhân.

Vụ thứ ba: Ngày 13/3/2018, Nguyễn Văn H gọi điện cho Nguyễn Văn T, hỏi hôm nay có đi làm được không ( ý rủ T đi cướp giật), T đồng ý thì H nói chiều đi H gọi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày H gọi điện cho T hẹn đến siêu thị “Lan Chi” để cùng nhau đi cướp giật tài sản. T đi xe máy đến siêu thị“Lan Chi” gặp H đang cầm theo hai mũ bảo hiểm. H cầm lái chở T ngồi phía sau, đi sang địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày tại khu vực ngã ba Sao Đỏ thì H và T phát hiện thấy bà Nguyễn Thị L đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Cúp 82 rẽ vào đường Hữu Nghị, H điều khiển xe đi theo bà L. Được một đoạn H điều khiển xe áp sát, T ngồi sau dùng tay phải giật túi xách của bà L sau đó H tăng ga bỏ chạy về thôn Trung Tâm, xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh lục soát chiếc túi xách của bà L thì thấy: bên trong 04 quyển sổ loại sổ giấy A4; có 01 túi nhỏ loại túi đeo hông màu đen, trong có số tiền 5.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Neo 5. T cầm chiếc điện thoại để dùng còn số tiền T và H chia mỗi người 2.500.000đ. Túi xách và sổ có trong túi xách T, H đem đốt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 463 ngày 05-6-2018 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thị xã C kết luận:

- 01 túi xách màu đỏ tại thời điểm ngày 05/3/2018 có giá trị 350.000đ, 01 ví da màu đỏ đã cũ tại thời điểm ngày 05/3/2018 có giá trị 700.000đ. Tổng giá trị định giá là 1.050.000đ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Neo 5 tại thời điểm ngày 13/3/2018 có giá trị 1.200.000đ; chi phí làm lại 01 thẻ sim thuê bao mạng Vinaphone tại thời điểm ngày 13/3/2018 có giá trị 25.000đ; 01 túi xách có thân và quai bằng vải thô màu xanh tại thời điểm ngày 13/3/2018 có giá trị 10.000đ; 01 túi đeo hông màu đen đã cũ ngày 13/3/2018 có giá trị 110.000đ; 04 quyền sổ lại giấy A4 ngày 13/3/2018 có giá trị10.000đ.Tổng giá trị định giá là 1.355.000đ. Tổng giá trị các tài sản của 3 vụ là: 28.105.000đ.

Về vật chứng:

- Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Chí Linh đã thu giữ 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ trùm kín đầu, màu trắng xám phía sau của mũ có chữ: “Chita Helmet”; 01 mũ bảo hiểm loại trùm kín đầu, màu xám, phía trước có ghi chữ: “Chase Agonistic Bktec Helmet, phía sau mũ có ghi chữ “BKtec Crative Design”.

- Nguyễn Văn H đã tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng; 01 một điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng.

- Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu trắng trong lắp thẻ sim viettel số 0981805102 dùng để liên lạc với H và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu trắng đỏ biển kiểm soát14Y1-00834. Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Neo 5 T đã sử dụng để mất ở đâu không rõ.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh đã trả lại cho chị Hoàng Thị Hg 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng; 01 một điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng chị Hg đã nhận lại tài sản không có đề nghị gì. Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H đã tác động gia đình để bồi thường dân sự cho Hg số tiền là 6.400.000đ; cho chị Trần Thị Thu H số tiền là 6.000.000đ và bà Nguyễn Thị L là 8.000.000đ. Chị Hg, chị H và bà L đã nhận tiền và không có đề nghị gì khác.

Đối với chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn H sử dụng để liên lạc với Nguyễn Văn T, sau đó H đã cho một người bạn quen biết xã hội nhưng không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Chí Linh không có căn cứ để điều tra, thu hồi.

Tại bản cáo trạng số 70/VKS - HS ngày 18 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận T bộ các Hành vi như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H; Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự ; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 54 đến 60 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/4/2018; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 39 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/4/2018. về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ trùm kín đầu, màu trắng xám phía sau của mũ có chữ: “Chita Helmet”; 01 mũ bảo hiểm loại trùm kín đầu, màu xám, phía trước có ghi chữ: “Chase Agonistic BKtec Helmet, phía sau mũ có ghi chữ “BKtec Crative Design”, 01 BKS 14Y1-00834; tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu trắng trong lắp thẻ sim viettel số 0981805102, về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng. Do đó, các Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hành tố tụng, người tiến Hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 09-3-2018 tại đoạn đường trước cửa số nhà 121, khu dân cư TH 1, phường S, thị xã C. Nguyễn Văn H điều khiển xe máy nhãn H YAMAHA Exiter màu trắng đỏ BKS14Y1-00834 chở Nguyễn Văn T ngồi sau cướp giật của chị Hoàng Thị Hg 01 chiếc túi xách nhãn hiệu Michael Kors màu vàng kem bên trong có 01 chiếc điện thoại iphone 6, 01 chiếc điện thoại iphone 6S Plus và1.000.000đ, cùng giấy CMND và thẻ ATM ngân hàng của chị Hg tổng giá trị là 16.700.000đ.

Khoảng 19 giờ ngày 05-3-2018 tại khu vực lối rẽ vào cổng chợ Sao Đỏ, phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn H điều khiển xe máy nhãn H Yamaha Exiter màu trắng đỏ BKS 14Y1-00834 chở Nguyễn Văn T ngồi sau cướp giật của chị Trần Thị Thu H chiếc túi xách màu đỏ bên trong có: 01 ví da nữ loại ví cầm tay, trong ví cầm tay có số tiền 4.000.000đ; 01 giấy phép lái xe; 01 đăng ký xe máy; 01 CMND đều mang tên Trần Thị Thu H, tổng giá trị là 5.050.000đ.

Khoảng 19 giờ ngày 13-3-2018 tại khu vực lối rẽ vào cổng chợ Sao Đỏ, phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn H điều khiển xe máy nhãn H YAMAHA Exiter màu trắng đỏ BKS 14Y1-00834 chở Nguyễn Văn T ngồi sau cướp giật của bà Nguyễn Thị L 01 chiếc túi xách có thân và quai vải thô màu xanh bên trong có 04 quyển sổ loại sổ giấy A4; có 01 túi nhỏ loại túi đeo hông màu đen, trong có số tiền 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Neo 5, tổng giá trị là 6.355.000đ. Tổng giá trị các tài sản chiếm đoạt 3 vụ là: 28.105.000đ.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân gây mất trật tự trị an trên địa bàn và tạo sự hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản L, bảo vệ tài sản. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ các Hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Các bị cáo không những chiếm đoạt tài sản của các bị hại mà còn dùng xe máy áp sát để thực hiện Hành vi, đây là thủ đoạn nguy hiểm gây nguy hại tới sự an T về tính mạng của các bị hại. Hành vi của các bị cáo đã cấu tành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Đây là vụ án đồng phạm trong đó, bị cáo T là người khởi xướng và trực tiếp chuẩn bị công cụ phạm tội cũng như là người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với quyết tâm cao nên bị cáo giữ vai trò chính, bị cáo H là đồng phạm thực hành việc phạm tội nên giữa vai trò sau bị cáo T.

 [5] Về nhân thân: Bị cáo T chưa được xóa án tích, bị cáo H tuy đã được xóa án tích đối với các bản án trên nhưng xác định các bị cáo là người có nhân thân xấu, ý thức chấp Hành pháp luật kém.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T, H mỗi bị cáo đều thực hiện ba Hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi Hành vi đều cấu tành tội “Cướp giật tài sản” nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, các bị cáo đã tự ra đầu thú tại cơ quan điều tra nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bố đẻ của bị cáo H được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi và vai trò của từng bị cáo mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 02 mũ bảo hiểm, 01 BKS xe máy đã thu giữ là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Còn đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu trắng trong lắp thẻ sim viettel số 0981805102 đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

[11] Đối với chị Đỗ Thu H (vợ bị cáo H) được bị cáo H đưa cho sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6S Plus, chị không biết đó là tài sản do bị cao H phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Chí Linh không đặt ra việc xử lý đối với chị H là phù hợp.

[12] Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exiter màu trắng đỏ số khung: RLCUG0610GY244727, số máy: G3D4E 257639, BKS 14Y1-00834 cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Chí Linh tiến Hnh giám định xác định số khung, số máy của xe là nguyên thủy biển số xe 14Y1-008.34 là biển giả, tiến hành tra cứu phương tiện xe mô tô, xác định chủsở hữu hợp pháp phương tiện là anh Hoàng Xuân H, sinh năm 1992, trú tại số 233, đường HX, Tiểu khu 6, thị trấn YC, huyện YC, tỉnh Sơn La nên Cơ quanCảnh sát điều tra – Công an thị xã Chí Linh đã trả lại xe cho anh H là hợp pháp.

[13] Về án phí:  Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, skhoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáoNguyễn Văn T 57 (năm mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ02/4/2018.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/4/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47,Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ trùm kín đầu, màu trắng xám có hoa văn màu đen, phía trước và phía sau của mũ có chữ: “Chita Helmet” mũ có phần kính chắn gió bằng nhựa kính trong; 01 mũ bảo hiểm loại trùm kín đầu, màu xám, phía trước có ghi chữ: “Chase Agonistic BKtec Helmet” phía sau mũ có ghi chữ “BKtec Crative Design”, 01 biển số xe BKS 14Y1-00834.

- Tịch thu phát mại sung quỹ NH nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 230 màu trắng trong lắp thẻ sim viettel số 0981805102. (Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/10/2018).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng ánphí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. 


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2018/HS-ST ngày 23/11/2018 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:86/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về