Bản án 86/2018/HNGĐ-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 86/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 430/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXX-ST ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Từ Thị N - sinh năm 1977;

Địa chỉ: Tổ 1, ấp V, xã AC, huyện CT, tỉnh TN.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T - sinh năm 1979;

Địa chỉ: Tổ 1, ấp V, xã AC, huyện CT, tỉnh TN.

(Các đương sự vắng có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 5 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Từ Thị N trình bày: Chị và anh T chung sống vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PV, huyện CT, tỉnh TN. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn càng về sau mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được, hiện nay không ai hỏi T ai, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Đức T - sinh năm 2001, Trần Thị Thanh T - sinh năm 2005, con chung đang sống chung với chị, chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không nợ.

Tại lời khai ngày 10 tháng 8 năm 2018, bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Thời gian anh và chị N chung sống với nhau và đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng, vợ chồng sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nay đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Có 02 con chung như chị N khai, anh đồng ý giao 02 con cho chị N nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết và nợ chung không nợ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự, những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị quyết số 326 về án phí lệ phí: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao cho chị N nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung khai không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, chị N phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Từ Thị N là nguyên đơn và anh Trần Văn T là bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên cần áp dụng vào Điều 228, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị N và anh T.

Chị Từ Thị N khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Văn T có hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã AC, huyện CT, theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh TN.

[2]. Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị N và anh Trần Văn T chung sống với nhau vào năm 2000, đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 12 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân xã PV, huyện CT, tỉnh TN, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình vợ chồng sống chung phát sinh mâu thuẫn, năm 2017 chị N có đơn xin ly hôn với anh T, sau đó rút đơn không yêu cầu giải quyết, nên ngày 15/5/2017 Tòa án nhân dân huyện CT ra Quyết định số 124/2017/QĐST-HNGĐ đình chỉ giải quyết vụ án. Nhưng giữa chị N và anh T mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh chị không có biện pháp hàn gắn tính cảm vợ chồng, chị N kiên quyết xin được ly hôn với anh T, anh T xác định vợ chồng không hàn gắn được nên đồng ý ly hôn là phù hợp.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị N và anh T thống nhất có 02 con chung tên Trần Đức T - sinh năm 2001, Trần Thị Thanh T - sinh năm 2005, hiện các cháu đang sống với chị N, chị N yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng, ý kiến của anh T đồng ý giao con cho chị N nuôi dưỡng. Qua hỏi nguyện vọng của cháu T và cháu T, các cháu có nguyện vọng được sống với chị N, nên cần giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của các cháu và của chị N cũng như anh T. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng do chị N không yêu cầu, nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai có quyền cản trở.

[4]. Tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu giải quyết, về nợ chung; chị N và anh T khai không nợ, nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở phù hợp.

[6]. Về án phí: Chị N phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Xin ly hôn” của chị Từ Thị N đối với anh Trần Văn T.

Chị Từ Thị N và anh Trần Văn T được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cho chị Từ Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung: Cháu Trần Đức T - sinh ngày 04/12/2001, Trần Thị Thanh T - sinh ngày 23/12/2005.

Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N không yêu cầu.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai có quyền cản trở.

3. Tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu giải quyết; về nợ chung; chị N và anh T khai không nợ, nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019238 ngày 04/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, chị N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

138
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2018/HNGĐ-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:86/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về