Bản án 85/2017/HS-ST ngày 11/08/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 85/2017/HS-ST NGÀY 11/08/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2017/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 85/2017/HSST- QĐ ngày 31 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Viết A, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu hành chính A, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; bố đẻ Nguyễn Viết P, mẹ đẻ Hoàng Thị H, vợ là Nguyễn Thị T và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2017 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Viết A bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/4/2017, Nguyễn Viết A đang ở nhà tại khu hành chính A, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhận được điện thoại của Phạm Văn T hỏi mua 02 gói ma túy hêrôin với giá 600.000đ. A đồng ý và hẹn T đi đến khu vực gần trường mầm non Hoa Sen thuộc đường P, phường T, thành phố V để trao đổi mua bán. Sau đó, A một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát: 52 - NA - 3652 đến điểm hẹn. Gặp nhau, T đưa cho A 600.000đ, A cầm tiền và bảo T đứng chờ để đi lấy ma túy. A khai đã đi đến ngõ 9, đường T, phường N, thành phố V mua 02 gói ma túy với giá 400.000đ của một nam thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Sau khi mua, A đi về khu vực trường mầm non Hoa Sen để giao ma túy cho T. Khi hai bên vừa giao nhận ma túy cho nhau thì bị tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm có:

- Thu tại tay trái của T 02 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, được niêm phong có ký hiệu A1, T khai đó là ma túy vừa mua được của A.

- Thu tại túi quần bên trái đang mặc của A số tiền 250.000đ (trong đó có 200.000đ là tiền lời do bán ma túy mà có);

- Tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; của A 01 xe máy biển kiểm soát: 52 - NA – 3652 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Tại Kết luận giám định số: 354/KLGĐ ngày 18/4/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột màu trắng  của mẫu ký hiệu A1 có trọng  lượng là  0,0656 gam có hêrôin;  trọng  lượng hêrôin  trong 0,0656 gam mẫu là 0,0211 gam”.

Tại Cáo trạng số: 84/KSĐT-MT ngày 28/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2017, tại khu vực gần trường mầm non Hoa Sen, thuộc đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, T có mua của Nguyễn Viết A 02 gói ma túy hêrôin với giá 600.000đ. Khi A vừa đưa gói ma túy cho T cầm thì bị Công an bắt quả tang và niêm phong tang vật (từ bút lục 50 - 54).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết A từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Viết A; tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Viết A và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T; trả lại bị cáo Nguyễn Viết A số tiền 50.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Viết A không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Viết A tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2017, tại khu vực gần trường mầm non Hoa Sen, thuộc đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Viết A đã có hành vi bán trái phép 02 gói ma túy với giá 600.000đ cho đối tượng nghiện là Phạm Văn T thì bị tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ được giám định là ma túy hêrôin, trọng lượng là 0,0656 gam có hêrôin; trọng lượng hêrôin trong 0,0656 gam mẫu là 0,0211 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Viết A đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự nhưng tại phiên tòa bị cáo khai đã từng sử dụng ma túy; hành vi được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ là thu lời bất chính; hiện tại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua túy để sử dụng; hành vi tàng trữ 0,0211 gam ma túy hêrôin chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt 1.500.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đối với bao gói ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với số tiền 200.000đ đã thu giữ của bị cáo, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 50.000đ đã thu giữ của bị cáo, đây là tài sản không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết A 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/4/2017).

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Viết A và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Viết A;

- Trả lại bị cáo Nguyễn Viết A số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 04/8/2017).

Áp  dụng  Điều  99  của  Bộ  luật  Tố  tụng  hình  sự;  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Viết A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án tại địa phương nơi thường trú./.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 85/2017/HS-ST ngày 11/08/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:85/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về