Bản án 84/2020/HSST ngày 20/08/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 84/2020/HSST NGÀY 20/08/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2020/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2020/QĐXXST-HS ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 27/6/2000 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Họ và tên cha: Lý Văn V, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1971; Đều trú tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 22/5/2020 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn Dự - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Anh T - Chủ hộ kinh doanh “H quán; Địa chỉ: Số H, phố K, tổ H (tổ B cũ), phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do.

- Người có quyền lợi liên quan: Ông Đặng Đình L; Địa chỉ: Tổ M, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 12 đến ngày 17 tháng 4 năm 2020, Lý Văn H (sinh năm 2000, trú tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng) là nhân viên bảo vệ của Nhà hàng H quán, địa chỉ tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã lợi dụng lúc nhà hàng đang đóng cửa trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội chống dịch Covid 19 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khong 11 giờ sáng ngày 12 tháng 4 năm 2020, Lý Văn H đi bộ từ phòng trọ tại phường S, thành phố C đến Nhà hàng H quán. H mở cửa rồi đi vào kiểm tra xung quanh nhà hàng. Sau đó, H đi đến khu vực quầy thu ngân bên trong nhà hàng, nhìn thấy có 03 (ba) chiếc máy tính bảng. H đã lấy 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A đem về phòng trọ. Đến khoảng 15 giờ ngày 13 tháng 4 năm 2020, H mang chiếc máy tính bảng trên đến Cửa hiệu cầm đồ Đ, địa chỉ tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng do Đặng Đình L (sinh năm 1982, trú tại tổ B, phường S, thành phố C) làm chủ để cầm cố lấy số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên H đã sử dụng để mua ma túy và tiêu dùng cá nhân hết.

Lần thứ hai: Với phương thức và thủ đoạn tương tự như lần thứ nhất, khoảng 10 giờ ngày 15 tháng 4 năm 2020, Lý Văn H tiếp tục đi đến Nhà hàng H quán lấy trộm 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A. Sau đó đem đến Cửa hiệu cầm đồ Đ (là hiệu cầm đồ bị cáo đến cầm cố máy tính bảng ngày 13/4/2020) để cầm cố lấy số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên H đã sử dụng để mua ma túy và tiêu dùng cá nhân hết.

Lần thứ ba: Tương tự như các lần trộm cắp trước đó khoảng 12 giờ ngày 17 tháng 4 năm 2020, Lý Văn H đến Nhà hàng H quán lấy 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A. Sau đó lại đem đến Cửa hiệu cầm đồ Đ để cầm cố lấy số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên H đã sử dụng để mua ma túy và tiêu dùng cá nhân hết.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ban hành bản yêu cầu định giá tài sản số 116 đối với toàn bộ số vật chứng của vụ án. Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-TCKH ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: “03 (ba) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu SamSung Galaxy Tab A có giá trị còn lại tại thời điểm bị chiếm đoạt là 9.409.000đ (chín triệu bốn trăm linh chín nghìn đồng)”.

Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã tiến hành tạm giữ của Đặng Đình L: 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031058; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 356136107031561; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031306.

Ngày 24/6/2020 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã trả lại số tài sản đã thu giữ ở trên cho chủ sở hữu để tiếp tục quản lý và sử dụng.

Hành vi trên đây của Lý Văn H đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSTP ngày 17/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lý Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 9.409.000 đồng và nhất trí với Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Bị cáo khẳng định đã tác động gia đình bồi thường cho ông Đặng Đình L số tiền là 4.500.000 đồng.

Các bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt:

- Ông Lê Anh T xác nhận đã nhận lại đủ tài sản gồm: 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031058; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 356136107031561; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031306 và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm.

- Ông Đặng Đình L xác nhận đã được gia đình của bị cáo H tự nguyện bồi thường số tiền 4.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đồng thời ông L đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản". Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 9 đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí với tội danh của bị cáo như Viện kiểm sát đã truy tố. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngoài 3 tình tiết giảm nhẹ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do người có quyền lợi liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt là 6 tháng tù.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng không nhất trí với ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và vẫn giữ nguyên mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 12/4/2020, ngày 15/4/2020 và ngày 17/4/2020 bị cáo Lý Văn H đã đến Nhà hàng H quán và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Mỗi lần bị cáo lấy trộm 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A có giá trị tài sản là 3.690.000đ (ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Tổng cộng bị cáo lấy trộm 03 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A có tổng giá trị tài sản là: 9.409.000đ (chín triệu bốn trăm linh chín nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có trình độ học vấn lớp 03/12 PT, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết định khung:

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được là 9.409.000đ (chín triệu bốn trăm linh chín nghìn đồng) nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)…”

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên không được coi là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường 4.500.000 đồng cho người có quyền lợi liên quan, đồng thời tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phần tranh luận người bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (người có quyền lợi liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt), Hội đồng xét xử xét hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp gây thiệt hại về tài sản cho bị hại, tuy nhiên, bị hại không có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo H đã liên tiếp thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản và giá trị mỗi lần trộm cắp tài sản đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt:

Xét thấy bị cáo tuổi còn trẻ, là người có nhận thức và có sức khỏe, thế nhưng bị cáo không những không cố gắng lao động để trở thành người có ích mà còn lao vào con đường nghiệp ngập, phạm tội. Với vị trí là bảo vệ của nhà hàng H quán, bị cáo không những không bảo vệ tài sản của nhà hàng mà còn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhà hàng. Hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, do đó, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ông Lê Anh T và ông Đặng Đình L xác nhận đã được nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng trả lại: 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031058; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 356136107031561; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, màu trắng, số Imei 3561136107031306 cho Ninh Xuân Q (là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Anh T) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với Đặng Đình L là người đã nhận cầm cố 03 (ba) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A của Lý Văn H. Tuy nhiên, khi nhận cầm cố tài sản L không hứa hẹn từ trước và không biết được tài sản H đem đến cầm cố là do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Đặng Đình L theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn gốc số ma túy có được để sử dụng cho bản thân, Lý Văn H khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực Bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C. Do không có đủ thông tin nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng không thể tiến hành xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Lý Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: bị cáo Lý Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 22/5/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận ông Lê Anh T đã nhận lại tài sản là 03 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab A, ông Đặng Đình L đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 4.500.000 đồng. Ông Lê Anh T và ông Đặng Đình L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


62
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 84/2020/HSST ngày 20/08/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:84/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về