Bản án 84/2019/HSST ngày 25/11/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH V

BẢN ÁN 84/2019/HSST NGÀY 25/11/2019 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh V, Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Tạ Xuân Tr, sinh ngày 30/7/2000 tại tỉnh V. Nơi cư trú: thôn Ng, xã N Mỹ, huyện L, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Đức Th, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Gi, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 07/6/2019 Tạ Xuân Tr có hành vi Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh V xử phạt 09 tháng tù tại bản án số 22/2019/HSST ngày 30/9/2019 (Tạ Xuân Tr kháng cáo bản án sơ thẩm và đang trong giai đoạn xét xử phúc thẩm).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: TDP L, thị trấn L, huyện L, tỉnh V, (có đơn xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Trần Duy L, sinh ngày 04/5/2004; Nơi cư trú: thôn V, xã Ng, huyện L, tỉnh V; vắng mặt Đại diện hợp pháp của cháu L: anh Trần Văn Th (bố đẻ cháu L), sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn V, xã Ng, huyện L, tỉnh V; vắng mặt

+ Cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 01/6/2005; Nơi cư trú: thôn T, xã Y, huyện S, tỉnh V; vắng mặt Đại diện hợp pháp của cháu T: ông Nguyễn Duy Th (ông nội cháu T), sinh năm 1984; Nơi cư trú: thôn T, xã Y, huyện S, tỉnh V; vắng mặt.

+ Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 11/01/2002; Nơi cư trú: thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh V, có mặt.

Đại diện hợp pháp của cháu T: Ông Nguyễn Văn H (bố đẻ cháu T); Nơi cư trú: thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh V, có mặt.

+ Anh Nguyễn Chiến Th, sinh năm 1998; Nơi cư trú: thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vc, có mặt.

+ Anh Nguyễn Thế Trg, sinh năm 1995; Nơi cư trú: TDP T, thị trấn L, huyện L, tỉnh V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vu án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 27/4/2019 Trần Duy L cùng Nguyễn Quốc T đi bộ lang thang tại khu vực thị trấn Lập Thạch, huyện L, đến khoảng 20 giờ 30 phút khi đi qua công trình đang xây dựng của anh Nguyễn Trọng H ở tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L thì phát hiện chiếc xe mô tô Dream BKS 88K1-9305 của anh H dựng trước cửa nhà sát với tỉnh lộ 305, xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện, không có người trông giữ. L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên và nói với T “Lấy chiếc xe kia, ý chú thế nào?”, T nói lại “tùy anh” r i T tiếp tục đi bộ về hướng xã Y, huyện S còn L đi đến trộm cắp xe mô tô. Khi T đi được khoảng 100m thì L điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đuổi theo và bảo T lên xe thì T ng i lên sau xe. L điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được chở T đến nhà Tạ Xuân Tr ở thôn Ng, xã Ng huyện L, trên đường đi L và T dùng tay không bẻ vứt bỏ biển kiểm soát của xe mô tô. Khi đến nhà Trg, L gọi Tr ra cổng, khi Tr ra nhìn thấy L và T đi chiếc xe mô tô thì Tr hỏi “xe ở đâu đấy, biển kiểm soát đâu”, L trả lời “bọn em vừa trộm được ở dốc L, thị trấn L”, Toản nói “biển số bọn em bẻ vứt đi r i”, r i L hỏi Tr “anh xem chỗ nào bán hoặc cầm”, Tr hiểu ý L và T rủ Tr tham gia tiêu thụ chiếc xe vừa trộm cắp được lấy tiền tiêu sài. Tr đ ng ý nên đã ng i lên xe chở L, T ng i sau đi tìm chỗ bán chiếc xe nhưng do đã muộn chưa tìm được chỗ tiêu thụ nên Tr nói “muộn r i, tìm chỗ nào nghỉ đi, để mai tính” r i Tr về nhà ngủ, L và T điều khiển xe trộm cắp được về quán điện tử ở thị trấn L để chơi điện tử và ngủ lại tại đây. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/4/2019 L điều khiển chiếc xe trộm cắp được tối ngày 27/4/2019 đến gọi Tr, r i L đi tháo bỏ cánh yếm chiếc xe sau đó quay lại đón Tr xuống quán internet tại thị trấn L đón T và cùng nhau bàn cách tiêu thụ chiếc xe. L rủ Tr đi thành phố V để tìm chỗ tiêu thụ, vì đường xa nên Tr không đi thì L nói “thế có chỗ nào cắm xe không”, Tr trả lời “có chỗ cầm”, r i lấy xe mô tô trở L, T đến bể bơi ở thôn C, xã X, huyện L thì để T ở lại đó. Sau đó, Tr điều khiển xe chở L đến nhà anh Nguyễn Thế Tr ở tổ dân phố T, thị trấn L, Tr nói “thằng bạn em có xe muốn cắm, anh cho nó vay ít tiền”, Tr cho vay 1.500.000đ và L để lại chiếc xe ở nhà Tr. L và Tr cùng nhau tiêu sài hết 800.000đ r i cùng nhau đi taxi trở lại bể bơi đón T, sau đó T, L và Tr cùng nhau tiêu sài hết số tiền trên. Ngày 01/5/2019 L, Tr đi bơi tại bể bơi ở thôn C, xã X thì gặp cháu Nguyễn Anh T, T đến hỏi Tr “anh có xe muốn bán à”, Tr hiểu ý T đang muốn tìm xe mô tô, Tr và L đang muốn bán chiếc xe cầm ở nhà anh Tr nên Tr chỉ tay ra chỗ L và nói “thằng kia có xe muốn bán” ý là xem L có bán xe cho T không và để cho L giao dịch với T. Sau đó T gọi điện cho Nguyễn Chiến Th nói lại chuyện L có chiếc xe muốn bán và bảo Th xuống xem xe, Th đ ng ý r i đến bể bơi gặp T, Tr và L, Th hỏi “xe của ai, giấy tờ đâu”, L trả lời “xe của em bố em mua cho em đi học, anh nhổ về mà đi, giấy tờ bố em cất ở nhà”. Sau đó Tr, L, T và Thắng đi đến gặp Tr để L thổ chiếc xe, Th đưa cho L 1.500.000đ, sau khi L nhổ xe xong thì giao xe cho Th sử dụng, r i cả bốn người cùng quay lại bể bơi ở thôn C, xã X. Tại đây L và Tr thỏa thuận bán chiếc xe cho Th với giá 3.000.000đ, L và Th làm giấy mua bán xe, nhưng do chưa có giấy tờ xe nên Th chỉ đưa thêm cho L 1.000.000đ và hẹn khi nào đưa được giấy đăng ký xe cho Th thì trả nốt 500.000đ. Số tiền 1.000.000đ trên L tiêu sài cá nhân hết. Th sử dụng chiếc xe trên để đi lại đến ngày 21/6/2019 thì vi phạm giao thông đường bộ bị lực lượng CSGT - công an huyện L tạm giữ xe.

Ngày 21/6/2019 anh Nguyễn Trọng H có đơn trình báo gửi công an huyện L.

Ngày 04/7/2019 Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện L có Kết luận số 279/KL-HĐĐG kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe dream, màu sơn nâu, số khung: 0808Y103541, số máy: HA08E1123092, xe đã qua sử dụng được định giá 6.000.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, Tạ Xuân Tr đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Đi với Nguyễn Duy L - theo T khai, là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên L thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, tính đến ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngày 27/4/2019), L chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT đã nhiều lần triệu tập, xác minh nhưng hiện tại Nguyễn Duy L không có mặt tại địa phương nên chưa có căn cứ để xem xét xử lý, khi nào triệu tập làm việc được L sẽ xem xét xử lý sau.

Đi với Nguyễn Quốc T, sinh ngày 01/6/2005 là người có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Trọng H. Tuy nhiên, T thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, tính đến ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ngày 27/4/2019), T chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quốc T.

Đi với Nguyễn Thế Tr là người đã cho Tr và L vay mượn tiền và để lại chiếc xe mô tô tại nhà riêng của Tr. Quá trình điều tra xác định Tr không biết chiếc xe là tài sản phạm tội mà có nên không xem xét xử lý. Đối với số tiền 1.500.000đ L vay của Tr, L đã hoàn trả nên Tr không có đề nghị gì.

Đi với Nguyễn Anh T là người giới thiệu cho Nguyễn Chiến Th đến mua chiếc xe mô tô trên, nhưng T không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với Nguyễn Chiến Th là người đã mua lại chiếc xe do L và T trộm cắp. Quá trình điều tra xác định, Thắng không biết chiếc xe là tài sản do L và T trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý. Đối với số tiền 2.500.000đ Th đã trả cho L khi mua chiếc xe máy, Th không yêu cầu L bồi thường mà chỉ đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Vt chứng vụ án:

- 01 Chiếc xe mô tô BKS: 88K1-9305 xác định là của anh Nguyễn Trọng H mượn của bà Trần Thị H, sinh năm 1968 ở TDP L, TT L, huyện L. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh H. Đối với chiếc biển kiểm soát xe mô tô T và L đã bẻ bỏ vứt ở ven đường và 01 chiếc cánh yếm xe mô tô màu trắng L đã tháo bỏ. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, anh H không yêu cầu bồi thường gì.

Bản cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh V đã truy tố bị cáo Tạ Xuân Tr về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L luận tội đối với bị cáo Tạ Xuân Tr. Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Xuân Tr phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Xuân Tr từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, không áp dụng hình phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có lời bào chữa, bổ sung nào khác.

Bi cáo nói lời sau cùng: Bi cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Tạ Xuân Tr đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kiểm điểm của bị cáo; lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ vật chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Tối ngày 27/4/2019 Trần Duy Long và Nguyễn Quốc T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tôi Dream BKS 88K1 - 9305 của anh Nguyễn Trọng H tại tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L, trị giá chiếc xe là 6.000.000đ. Sau khi trộm cắp được tài sản, L và T tìm đến gặp Tr để tìm cách tiêu thụ. Mặc dù biết rõ chiếc xe mô tô là tài sản do L và T trộm cắp mà có nhưng Tạ Xuân Tr vẫn đ ng ý cùng L và T tiêu thụ chiếc xe mô tô trên.

Hành vi nêu trên của Tạ Xuân Tr đã phạm vào tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều luật quy định: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà… tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hửu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo không chịu lao động chân chính, biết rõ là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn tìm cách tiêu thụ, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, là người có sức khoẻ nhưng không chịu rèn luyện để trở thành công dân tốt, không chịu làm ăn lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng ngày 07/6/2019 Tạ Xuân Tr có hành vi Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh V xử phạt 09 tháng tù tại bản án số 22/2019/HSST ngày 30/9/2019 (Tạ Xuân Tr kháng cáo bản án sơ thẩm và đang trong giai đoạn phúc thẩm nên bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Bị cáo không chịu cải tạo bản thân, liên tục thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về áp dụng hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng …”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo Trường thấy rằng: bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, vẫn sống phụ thuộc vào gia đình vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án:

- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 Chiếc xe mô tô BKS: 88K1-9305. Anh H không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên vấn đề bồi thường Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Đối với số tiền 2.500.000đ Th đã trả cho L khi mua chiếc xe máy, Th không yêu cầu L bồi thường mà chỉ đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Đối với số tiền 1.500.000 Th đưa cho L để trả tiền cho anh Tr lấy xe về bán cho Th. Số tiền vay của anh Tr, L, T, Tr đã cùng nhau tiêu sài hết, đây là tiền thu lời bất chính cần truy thu xung quỹ Nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo Tr tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này.

Đi với 1.000.000đ Th đưa cho L, do hiện nay L vắng mặt tại phiên tòa, không có mặt tại địa phương nên không làm rõ được, do vậy tách ra khi nào L có mặt các bên có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: Bị cáo Tạ Xuân Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Xuân Tr phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Xử phạt: bị cáo Tạ Xuân Tr 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Truy thu của Tạ Xuân Tr số tiền 1.500.000đ để sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tạ Xuân Tr phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 84/2019/HSST ngày 25/11/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:84/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về