Bản án 841/2020/HNGĐ-ST ngày 14/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 841/2020/HNGĐ-ST NGÀY 14/09/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:251/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:124/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2020, quyết định hoãn phiên tòa số:105/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2020,giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim O - SN:1986 Địa chỉ: 140 Lê Thanh N, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Bị đơn: anh Phan Hữu T- SN:1980(vắng mặt) Địa chỉ: 21 Ngô Chi L(số cũ 07) thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nhận ngày 16/4/2020 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim O trình bày:

Chị và anh Phan Hữu T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 27/02/2012 tại UBND xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2018. Nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn anh Phan Hữu T.

Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Phan Hữu T có hai con chung là: Phan Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 22/11/2012 và Phan Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 03/01/2018, các con đang ở với chị, sức khỏe bình thường. Tại phiên hòa giải ngày 05/6/2020 chị và anh T thuận tình ly hôn và thỏa thuận giao hai con cho anh Thọ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau đó chị phát hiện anh T làm thủ tục chuyển trường, đưa hai con về xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ sinh sống, học tập. Cho nên chị thay đổi nội dung về người trực tiếp nuôi con theo thỏa thuận ngày 05/6/2020. Nay, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Phan Hữu T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết, không có nợ chung.

Tại bản khai và biên bản hòa giải ngày 18/5/2020; bản khai và biên bản hòa giải ngày 18/6/2020, bị đơn anh Phan Hữu Ttrình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Kim O tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 27/02/2012 tại UBND xã Mỹ Lợi, Huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2018. Nay, tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim O.

Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị Nguyễn Thị Kim O có hai con chung là: Phan Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 22/11/2012 và Phan Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 03/01/2018. Ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Phan Nguyễn Bảo Q, tự nguyện giao con Phan Nguyễn Hoàng Q, cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết, không có nợ chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Tại phiên tòa, anh Phan Hữu T đã được triệu tập hợp lệ lần hai. Đề nghị Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt anh T quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim O kiên quyết yêu cầu ly hôn, còn anh Phan Hữu T vắng mặt. Tuy nhiên, tại các bản khai và các biên bản hòa giải anh Thọ cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị O. Cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị O yêu cầu ly hôn anh T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu T có hai con chung là: Phan Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 22/11/2012 và Phan Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 03/01/2018.

Về nuôi con chung: Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Qđều còn nhỏ, rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, chị O lại có việc làm và thu nhập ổn định. Cho nên, việc giao Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị Oanh tự nguyện rút yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Vụ án có quan hệ pháp luật“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phan Hữu T, trú tại khu vực 9, phường Đống Đ, thành phố Quy Nhơn, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Anh Phan Hữu T đã được triệu tập hợp lệ lần hai, nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt anh Thọ quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Pháp luật nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu T tự nguyện đăng ký theo chứng nhận kết hôn số: 06/2012, quyển số 01 ngày 27/02/2012 của UBND xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định là đúng quy định Luật hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân giữa chị O và anh T là hợp pháp.

Tại phiên Tòa: Chị O kiên quyết yêu cầu ly hôn, còn anh T vắng mặt nhưng tại các bản khai và biên bản hòa giải anh Phan Hữu T thừa nhận: Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2018. Nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị O. Cho thấy, hôn nhân giữa chị O và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Kim O khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Phan Hữu T là có căn cứ qui định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu T có hai con chung là: Phan Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 22/11/2012 và Phan Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 03/01/2018.

Về nuôi con chung, xét thấy: Anh Phan Hữu T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Phan Nguyễn Bảo Q, nhưng hiện anh đang hành nghề tài xế xe ô tô chạy dịch vụ. Trong khi đó, các con Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q đều còn nhỏ, rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ; chị O có việc làm và thu nhập ổn định. Cho nên, giao Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con, đúng nguyện vọng của Phan Nguyễn Bảo Q. Vì vậy, chị O yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q là có căn cứ quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim O tự nguyện rút yêu cầu anh Phan Hữu T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không giải quyết.

[4] Tài sản chung, nợ chung: Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu T không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ án phí DS-ST.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim O.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim O được ly hôn anh Phan Hữu T.

2. Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Chị Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu Tcó hai con chung: Phan Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 22/11/2012 và Phan Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 03/01/2018.

Giao Phan Nguyễn Bảo Q và Phan Nguyễn Hoàng Q cho chị Nguyễn Thị Kim O trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Kim O không yêu cầu, HĐXX không giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Kim O và anh Phan Hữu T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên, không ai được cản trở; đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3.Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim Oanh và anh Phan Hữu Thọ không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DS-ST nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị Oanh đã nộp theo biên lai thu số 0007756 ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (chị O đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim O có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Phan Hữu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 841/2020/HNGĐ-ST ngày 14/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:841/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về