Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 83/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018, và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/10/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1988

Hộ khẩu thường trú: Số nhà 3511/1/1, Tổ 4, Ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở: Số nhà 10, Tổ 4, Ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước R – sinh năm 1988

Địa chỉ: Số nhà 3511/1/1, Tổ 4, Ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh R vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2018 và lời khai trong quá trình thụ lý hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh R kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/5/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2016 thì xảy ra mâu thuẫn do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn mà anh còn chi tiêu không có kế hoạch từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung; bản thân chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh R không thay đổi, anh chị đã tự nói chuyện thỏa thuận hòa giải đoàn tụ và hai bên gia đình cũng có tiến hành hòa giải nhưng vẫn không thành. Từ tháng 02/2017, anh chị đã không còn chung sống cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh R.

- Về nuôi con chung: Chị T trình bày có 01 (một) con chung Nguyễn Thị Phước T – sinh ngày 22/9/2012. Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tạm thời không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị T đang làm công nhân tại Bình Dương, có thu nhập trung bình 9.000.000đ/tháng, ngoài ra cha mẹ chị cũng hỗ trợ chị chăm sóc cháu T nên chị đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Chị được biết anh R có nghề nghiệp là tài xế, thu nhập không ổn định nên chị không yêu cầu anh cấp dưỡng. Từ khi ly thân tháng 02/2017 đến tháng 8/2018, cháu T do cha mẹ anh R nuôi dưỡng, bản thân anh R đi lái xe thuê vài tuần mới về nhà nên việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung là rất hạn chế, không có điều kiện, hơn nữa cháu T là nữ vì vậy chị đã đưa con về trực tiếp nuôi dưỡng từ đầu tháng 9/2018 cho đến nay.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn đã giao nộp kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu, chứng cứ sau đây: Chứng minh nhân dân của nguyên đơn (Bản sao), Sổ hộ khẩu của các đương sự (Bản sao), Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính), Giấy khai sinh con chung (Bản sao). Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ trên cho bị đơn.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: Bản tự khai của nguyên đơn; Đơn yêu cầu xác minh, Đơn đề nghị Tòa án hỗ trợ, Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Đơn xin xác nhận hộ khẩu thường trú đối với bị đơn, Đơn xin xác nhận về nuôi dưỡng con chung và thu nhập, Đơn thể hiện nguyện vọng của con chung; Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân và nuôi con chung của Tòa án. Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không có thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chị T. Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh R. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phước T – sinh ngày 22/9/2012 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh R. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh R không có văn bản trình bày ý kiến, vì vậy tách ra giải quyết vụ án khác khi có tranh chấp. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn anh Nguyễn Phước R có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh R, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; chị T là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị là nguyên đơn, anh R là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh R được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, vào sổ cấp giấy số 12, Quyển số 01 ngày 11/5/2012. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Chị T trình bày anh chị có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bất đồng về việc chi tài chính trong gia đình, từ đó vợ chồng thường hay cự cãi, không có tiếng nói chung; bản thân chị đã nhiều lần khuyên nhủ, anh chị đã tự nói chuyện thỏa thuận hòa giải đoàn tụ và hai bên gia đình cũng có tiến hành hòa giải nhưng vẫn không thành. Từ tháng 02/2017, anh chị đã không còn chung sống cho đến nay. Bản thân anh R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng, qua đó thể hiện anh R có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến chị T, không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân tại địa phương cũng phù hợp với lời khai của chị T.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, chị T và anh R đã không còn tình cảm thương yêu, tôn R, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm R, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh R.

- Về nuôi con chung:Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ về nuôi con chung tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Từ sau khi anh chị không còn sống chung tháng 02/2017 đến tháng 8/2018, cháu T do cha mẹ anh R nuôi dưỡng, từ đầu tháng 9/2018 chị đã đưa cháu về trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Bản thân anh R làm nghề lái xe thuê vài tuần mới về nhà và có thu nhập không ổn định nên việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung là chưa đảm bảo về điều kiện; bản thân chị T có lối sống đạo đức tốt, có trách nhiệm thường xuyên về thăm nom chăm sóc con chung, có nghề nghiệp công nhân với mức thu nhập trung bình khoảng 9.000.000đ/tháng, ngoài ra cha mẹ chị cũng hỗ trợ chị chăm sóc cháu T nên chị đủ khả năng nuôi dưỡng con chung; đồng thời cháu T là giới tính nữ. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu nuôi con chung của chị T là có cơ sở nên chấp nhận giao con chung cho chị nuôi dưỡng, tạm thời miễn cho anh R nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh R không có văn bản trình bày ý kiến, vì vậy tách ra giải quyết vụ án khác khi có tranh chấp.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Phước R.

- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phước T – sinh ngày 22/9/2012 cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời miễn cho anh R nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung chưa thành niên, các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T kê khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh R không có văn bản trình bày ý kiến, vì vậy tách ra giải quyết vụ án khác khi có tranh chấp.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 009053 ngày 22/5/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh R được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

67
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 83/2018/HNGĐ-ST ngày 16/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:83/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thống Nhất - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về