Bản án 82/2019/DS-ST ngày 25/12/2019 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 82/2019/DS-ST NGÀY 25/12/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2019/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1958 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp 1, xã N, huyện M, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Lâm Thu Đ, sinh năm 1983 (có mặt).

Nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc A trình bày: Ngày 10-12-2015 dương lịch, bà A mở dây hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khui 01 kỳ, tổng 30 phần, chị Đ tham gia 02 phần. Quá trình tham gia hụi chị Đ đã hốt cả 02 phần hụi nhưng không nhớ thời điểm chị Đ bỏ trúng hụi của 02 phần hụi là kỳ thứ mấy. Chị Đ đóng lại một thời gian (bà không nhớ đóng lại mấy kỳ) thì ngưng không đóng, đến nay còn nợ lại 17 kỳ với số tiền 17.000.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 02-7-2019, bà A xác định: Khi lập danh sách hụi thì bà Lê Thị T là người trực tiếp gặp bà A ghi tên chị Đ tham gia trong danh sách hụi. Quá trình giao dịch hụi đến khi hốt và đóng hụi chết cả 02 phần hụi nêu trên thì chị Lâm Phượng K (em ruột chị Đ) đều trực tiếp đóng cho bà, chị Đ không có đóng bất cứ lần nào. Khi đi bỏ hụi chị Đ đi cùng với bà Lê Thị T, cả 02 lần bà A giao tiền hụi trực tiếp cho chị Đ và bà T nhưng không có làm biên nhận và không có ai chứng kiến, khi chị K đóng hụi cũng không có làm biên nhận.

Tại phiên tòa, bà A giữ nguyên nội dung yêu cầu chị Đ thanh toán số tiền hụi còn nợ lại 17.000.000 đồng.

Bị đơn là chị Lâm Thu Đ trình bày: Chị Đ xác định không có tham gia giao dịch hụi như bà A trình bày và chị cũng không có đi cùng với mẹ chị là bà T tham gia bỏ hụi; chị không có nhận tiền hụi do bà A giao. Chị Đ không biết tại thời điểm giao dịch hụi bà T có lấy danh nghĩa của chị để tham gia giao dịch hụi với bà A hay không. Nay chị Đ không đồng ý theo yêu cầu của bà A.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong uá trình giải uyết vụ án kể từkhi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng theo uy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị định 144 ngày 27/11/2006 bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: Giao dịch dân sự giữa bà Nguyễn Ngọc A với chị Lâm Thu Đ được xác định tại thời điểm thực hiện là hợp đồng hụi theo uy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của bà A, thấy rằng: Bà A cung cấp danh sách hụi do bà A tự lập không có chữ ký của chị Đ và hụi viên. Việc giao nhận tiền hụi khi hụi viên được hốt (nhận) tiền hụi, việc đóng tiền hụi hàng tháng đều không lập văn bản có chữ ký của người được nhận hoặc giao hụi, việc hụi viên còn thiếu tiền hụi cũng không làm văn bản đối chiếu mà tự theo dõi. Sau khi hụi mãn cũng không có xác nhận của người thiếu tiền hụi và bà A không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh chị Đ hiện còn thiếu số tiền 17.000.000 đồng. Việc thực hiện giao dịch hụi như trên là không phù hợp với uy định tại Điều 9, Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, bà A là chủ hụi đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi là “Lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên uan đến họ”.

[3] Bà A xác định chị Đ có tham gia hụi, chị Đ không th a nhận mà cho rằng hụi này là mẹ của chị là bà T (đã chết) tham gia. Tại biên bản ghi lời khai các hụi viên tham gia trong dây hụi cùng ngày 30-10-2019: Ông Trần Minh P, bà Nguyễn Thị D, bà Phan Hồng T, bà Lê Duy T: Đều xác định chị Đ có tham gia hụi của bà A, có nghe nói thiếu tiền hụi nhưng không biết rõ số tiền thiếu là bao nhiêu (t bút lục 52 - 55); đối với bà Tạ Thị L, anh Phạm Văn Đ1, bà Phạm Thị T1 xác định: “…không rõ chị Đ có tham gia hụi của bà A hay không, hiện nay có thiếu tiền bà A hay không thì không biết” (bút lục 50, 51, 56). Sau khi mãn hụi, các bên không thực hiện đối chiếu số tiền hụi còn thiếu nên không có căn cứ xác định chị Đ có nợ tiền hụi như bà A trình bày nên yêu cầu của bà A không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc A không được chấp nhận nên bà A phải chịu án phí. Tuy nhiên, bà A là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên bà A được miễn án phí theo uy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc A đối với chị Lâm Thu Đ về việc trả tiền hụi 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng).

- Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc A được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Ngọc A và chị Lâm Thu Đ có uyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 82/2019/DS-ST ngày 25/12/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:82/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về