Bản án 81/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 81/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1992;

Đa chỉ cư trú: Ấp LK, xã GL, huyên Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hà Đ, sinh năm 1989;

Đa chỉ cư trú: Ấp LK, xã GL, huyên Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 4 năm 2019 của nguyên đơn - chị Nguyễn Ngọc D và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hà Đ chung sống với nhau vào ngày 08-9-2014, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 145/2005 ngày 11-9-2014 tại Ủy ban nhân dân xã GL, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh Đ chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Do anh Đ không lo làm kinh tế gia đình, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con, thường đi cờ bạc (cá độ đá banh, đá gà, đánh bài) nên kinh tế gia đình luôn gặp khó khăn, bất đồng tư tưởng trong hoạt đời sống hàng ngày, vợ chồng thường gây gổ nhau. Ngày 10-10-2018, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và vợ chồng ly thân từ đó đến nay.

Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo V, sinh ngày 23-8-2016 do chị trực tiếp nuôi dưỡng từ ngày 10-10-2018 cho đến nay. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hà Đ trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng.

Anh đồng ý ly hôn với chị D.

Về con chung: Chị D giao anh tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thảo V, anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hi đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Ngọc D đối với anh Nguyễn Hà Đ.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thảo V, sinh ngày 23-8-2016 cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Đ vắng mặt có đơn đề nghị Tòa anh xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

[2] Về hôn nhân: Chị D và anh Đ chung sống với nhau vào ngày 08-9-2014, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 145/2005 ngày 11-9-2014 tại Ủy ban nhân dân xã GL, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị D và anh Đ chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Do anh Đ không lo làm kinh tế gia đình, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con, thường đi cờ bạc (cá độ đá banh, đá gà, đánh bài) nên kinh tế gia đình luôn gặp khó khăn, bất đồng tư tưởng trong hoạt đời sống hàng ngày, vợ chồng thường gây gổ nhau. Ngày 10- 10-2018, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị D yêu cầu ly hôn, anh Đ đồng ý ly hôn với chị D.

Hi đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị D và anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh Đ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị D và anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Thảo V, sinh ngày 23-8-2016. Tại phiên tòa hôm nay, chị D yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Thảo V, chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thảo V.

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Nguyễn Ngọc Thảo V, sinh ngày 23-8-2016 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung, nên chấp nhận là phù hợp theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngọc D đối với anh Nguyễn Hà Đ.

Chị Nguyễn Ngọc D được ly hôn anh Nguyễn Hà Đ.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thảo V, sinh ngày 23-8-2016 cho chị Nguyễn Ngọc D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017085 ngày 18-4-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng; chị Nguyễn Ngọc D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 81/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:81/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về