Bản án 81/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 về tranh chấp giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự đối với hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 81/2019/DS-ST NGÀY 13/11/2019 VỀ TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ, HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp: “Giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự đối với Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2019/QĐXX-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lữ Văn T, sinh năm 1962

Địa chỉ: ấp C, xã K, huyện K, tỉnh S.

2. Bị đơn:

Bà Trần Thị N, sinh năm 1951.

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1951

Cùng địa chỉ: ấp C, xã K, huyện K, tỉnh S.

(Ông T có mặt; bà N có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17/9/2019, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là ông Lữ Văn T trình bày:

Ông T có tham gia chơi hụi do vợ chồng bà Trần Thị N, ông Nguyễn Văn T làm đầu thảo. Cụ thể các dây hụi sau:

1/ Dây hụi tháng, mở vào ngày 15/6/2015, gồm 28 phần, mỗi phần 500.000 đồng, ông T tham gia 01 phần, đã đóng được 13 kỳ (lần) hụi sống, nếu tính cả vốn và lãi hụi thì được số tiền 6.500.000 đồng.

2/ Dây hụi tháng, mở vào ngày 20/01/2015, gồm 28 phần, mỗi phần 300.000 đồng, ông T tham gia 01 phần, đã đóng được 20 kỳ (lần) hụi sống, nếu tính cả vốn và lãi hụi thì được số tiền 6.000.000 đồng.

3/ Dây hụi mùa, mở vào ngày 19/11/2013, gồm 20 phần, mỗi phần 3.000.000 đồng, ông T tham gia 01 phần, đã đóng được 09 kỳ (lần) hụi sống, nếu tính cả vốn và lãi hụi thì được số tiền 27.000.000 đồng.

Theo nội dung đơn khởi kiện ban đầu, ông T yêu cầu bà N và ông T cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng.

Ngày 24/10/2019 ông Lữ Văn T có nộp đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung như sau:

Ngày 17/9/2019 ông T có làm đơn kiện bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T trả số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng.

Nay ông T chỉ yêu cầu bà Trần Thị N trả số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng.

Ông T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ nêu trên cùng bà N.

Tại phiên Tòa, ông Lữ Văn T vẫn giữ nguyên ý kiến theo nội dung đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 24/10/2019 và chỉ yêu cầu bà Trần Thị N chịu trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng.

Bị đơn là bà Trần Thị N có đơn xin vắng mặt.

Theo Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 14/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách bị đơn là bà Trần Thị N trình bày:

Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng. Bà N thừa nhận còn nợ tiền hụi của ông Lữ Văn T của tất cả các dây hụi với số tiền là 39.500.000 đồng.

Nay bà N cũng đồng ý trả cho ông Lữ Văn T số tiền hụi 39.500.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi vụ (04 tháng) trả 4.000.000 đồng cho đến khi xong nợ.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T vắng mặt.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lữ Thanh T là có căn cứ. Bỡi lẽ, ông Lữ Văn T chỉ yêu cầu bà Trần Thị N trả số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng và bà N cũng đồng ý trả cho ông T số tiền nói trên. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, buộc bà Trần Thị N trả cho ông T số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng.

Đi với việc xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của ông T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Xét thấy, việc thay đổi này cũng phù hợp với quy định của pháp luật, không gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn T nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí, chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và Tại phiên Tòa, nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung như sau: chỉ yêu cầu bị đơn là bà Trần Thị N chịu trách nhiệm thanh toán số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng, không yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Văn T phải chịu trách nhiệm trả nợ cùng với bị đơn là bà Trần Thị N. Xét thấy, việc thay đổi một phần khởi kiện của nguyên đơn về trách nhiệm trả nợ là quyền tự định đoạt của đương sự, không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên Tòa, bị đơn là ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời bị đơn T không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, do nguyên đơn không có yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn T trả nợ cùng với bị đơn Trần Thị N nên giữa nguyên đơn và bị đơn Nguyễn Văn T không có phát sinh quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, đồng thời bị đơn Nguyễn Văn T cũng không bị thiệt hại hoặc quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đồng thời cũng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2915. Cho nên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Văn T là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về đánh giá chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Trần Thị N thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng và đồng ý trả dần cho nguyên đơn bằng cách mỗi vụ (04 tháng) trả 4.000.000 đồng cho đến khi xong nợ.

Xét thấy, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2, Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của các nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Trần Thị N phải chịu trách nhiệm thanh toán số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng. Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn Trần Thị N đã có giao dịch về tài sản dưới hình thức góp hụi với mục đích tương trợ, có hưởng huê hồng, tiền lãi được thực hiện theo quy định của pháp luật là có thật. Đồng thời, bị đơn Trần Thị N cũng có ý kiến thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền hụi là 39.500.000 đồng như nguyên đơn đã khai. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn Trần Thị N phải thanh toán số tiền hụi còn nợ là 39.500.000 đồng là chính đáng và có căn cứ pháp luật để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Đi với ý kiến của bị đơn Trần Thị N xin trả dần số tiền hụi 39.500.000 đồng bằng cách mỗi vụ (04 tháng) trả 4.000.000 đồng đến khi xong nợ. Xét thấy, ý kiến này của bị đơn Trần Thị N không được nguyên đơn chấp nhận và cũng không có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên Tòa, nguyên đơn không yêu cầu tính thêm tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện trả tiền hụi. Xét thấy, việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh là có lợi cho bị đơn Trần Thị N, đây là quyền tự định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử không có căn cứ đặt ra giải quyết trong vụ án này.

[4] Về án phí DSST:

Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhân.

Bị đơn Trần Thị N phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị đơn Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhậNghị định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1, Điều 227, khoản 1, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 1, Điều 27 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ: Về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu của ông Lữ Văn T. Buộc bà Trần Thị N chịu trách nhiệm thanh toán cho ông Lữ Văn T 39.500.000 đồng (ba mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng) tiền nợ hụi.

[2] Về án phí:

Ông Lữ Văn T (Lữ Thanh T) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 987.500 đồng (chín trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0000924 ngày 04/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách.

Bà Trần Thị N phải chịu 1.975.000 đồng (một triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, ông Lữ Văn T có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án. Bà Trần Thị N không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án do có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn T không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đi với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


12
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về