Bản án 811/2019/HNGĐ-ST ngày 11/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 811/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 11 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2663/2019/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Nguyễn Đan T, sinh năm 1992.

Đa chỉ: Đường Cách, Phường T, Quận M, Thành phố H (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1989 Quốc tịch: Việt Nam Địa chỉ: 3991 29th Ave N Saint Petersburg FL 33713 USA (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 08/01/2018, bản tự khai ngày 07/2/2018 của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh Đ tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 801, quyển số 5, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/3/2015.

Sau khi kết hôn bà và ông Nguyễn Thanh Đ chung sống với nhau được khoảng 01 tháng. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên gia đình luôn bất hòa. Đến khoảng tháng 5 năm 2015 ông Nguyễn Thanh Đ quay trở vể Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Khoảng thời gian ông Nguyễn Thanh Đ ở Hoa Kỳ, bà và ông Nguyễn Thanh Đ có liên lạc với nhau qua điện thoại, bản thân bà và gia đình cả hai bên đã nhiều lần cố gắng hàn gắn cho bà và ông Đạt nhưng không thành. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị ly hôn với ông Nguyễn Thanh Đ để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Bà Phạm Nguyễn Đan T khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Nguyễn Đan T khai không có.

Ngày 26/6/2018 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 384/UTTPDS-TA30 về việc thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư Pháp yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa xét xử.

Ngày 01/08/2018, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 1977/CH-BTP về việc thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo đó, đề nghị Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Thanh Đ.

Ngày 10/01/2019 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Công văn số 98/BTP-PLQT về kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Thanh Đ, theo đó Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ đã thực hiện thành công ủy thác nêu trên.

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 11/7/2019 tuy nhiên bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ vắng mặt vì vậy Tòa án vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T có đơn xin vắng mặt trong tất cả các buổi xét xử lý do bận công việc, bà xin giữ nguyên các ý kiến của bà trong đơn khởi kiện, bản tự khai và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh Đ.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp hợp lệ để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Nguyễn Thanh Đ không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “ Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; phạm vi xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Bà Phạm Nguyễn Đan T khai không còn tình cảm với ông Nguyễn Thanh Đ, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của bà Phạm Nguyễn Đan T có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Phạm Nguyễn Đan T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết : Nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ đang cư trú tại Hoa Kỳ, giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 ; điểm a khoản 2 Điều 38 ; Điều 464 ; Điều 465 ; điểm g khoản 1 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122 ; Điều 123 ; Điều 124 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:

Xét nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Nguyễn Đan T.

Ông Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử. Nhưng ông vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Nguyễn Đan T, Hội đồng xét xử nhận thấy :

n cứ giấy chứng nhận kết hôn số 801, quyển số 5, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/3/2015 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Nguyễn Đan T và ông Nguyễn Thanh Đ là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, bà Phạm Nguyễn Đan T khai rằng bà và ông Nguyễn Thanh Đ chung sống với nhau được khoảng 01 tháng. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên gia đình luôn bất hòa. Đến khoảng tháng 5 năm 2015 ông Nguyễn Thanh Đ quay trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Khoảng thời gian ông Nguyễn Thanh Đ ở Hoa Kỳ, bà và ông Nguyễn Thanh Đ có liên lạc với nhau qua điện thoại, bản thân bà và gia đình cả hai bên đã nhiều lần cố gắng hàn gắn cho bà và ông Đạt nhưng không thành. Nay bà và ông Nguyễn Thanh Đ không còn liên lạc với nhau. Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau ; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình ; có nghĩa vụ cùng sống với nhau trong khi hai vợ chồng bà Phạm Nguyễn Đan T và ông Nguyễn Thanh Đ mỗi người một nơi nên tình cảm vợ chồng không còn điều kiện vun đắp. Tòa án cũng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho ông Nguyễn Thanh Đ để thông báo ngày hòa giải, xét xử nhưng vẫn không thấy ông Nguyễn Thanh Đ trả lời cho thấy ông Nguyễn Thanh Đ không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên yêu cầu của bà Phạm Nguyễn Đan T ly hôn Nguyễn Thanh Đ là có cơ sở đế chấp nhận.

[2.2] Con chung : Bà Phạm Nguyễn Đan T khai không có

[2.3] Tài sản chung và nợ chung : Bà Phạm Nguyễn Đan T khai không có.

[3] Án phí :

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm : Bà Phạm Nguyễn Đan T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[4] Về chi phí tố tụng khác:

Do Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã nhận được chi phí thực tế ủy thác tư pháp do bà Phạm Nguyễn Đan T trực tiếp chuyển khoản. Bà Phạm Nguyễn Đan T đã đóng đủ.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 ; khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 469; điểm a khoản 5 Điều 477 ; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51 ; Điều 53 ; Điều 54; khoản 1 Điều 56 ; Điều 57 ; Điều 122 ; Điều 123 ; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008; Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T.

1/ Quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Nguyễn Đan T được ly hôn ông Nguyễn Thanh Đ.

Giy chứng nhận kết hôn số 801, quyển số 5, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/3/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung : Không có.

3/ Về tài sản chung: Không.

4/ Về nợ chung : Không có.

5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Nguyễn Đan T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0048696 ngày 19/01/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

6/ Về chi phí tố tụng khác: Bà Phạm Nguyễn Đan T đã đóng đủ.

7/ Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn bà Phạm Nguyễn Đan T và bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ; thời hạn kháng cáo của bà Phạm Nguyễn Đan T là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Đối với ông Nguyễn Thanh Đ thời hạn kháng cáo bản án là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 811/2019/HNGĐ-ST ngày 11/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:811/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về