Bản án 808/2018/HNGĐ-ST ngày 20/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 808/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2016/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2332/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Mỹ H, sinh năm 1970.

Đa chỉ: Chung cư K, Đường M, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1971. Quốc tịch: Việt Nam.

Địa chỉ: USA.

(Đu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/11/2016, bản tự khai ngày 05/01/2017 của nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Anh T tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cấp ngày 14/5/2002. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung được một thời gian ngắn thì ông Nguyễn Anh T trở về Hoa Kỳ, còn bà vẫn sống ở Việt Nam. Thời gian đầu sau khi ông Nguyễn Anh T trở về Hoa Kỳ hai vợ chồng có liên lạc thường xuyên qua điện thoại và về thăm bà. Ông có làm thủ tục bảo lãnh bà sang Hoa Kỳ để đoàn tụ gia đình nhưng hồ sơ của bà không được Tổng Lãnh sự Quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận. Do không có thời gian, điều kiện sống chung nên không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình. Từ năm 2008 đến nay, hai vợ chồng bà đã không còn liên lạc với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị ly hôn với ông Nguyễn Anh T để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Bà Ngô Thị Mỹ H khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Mỹ H khai không có.

Ngày 09 tháng 3 năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 21/UTTPDS-TA30 về ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư pháp yêu cầu thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Anh T.

Ngày 19/6/2017, Bộ Tư pháp đã có công văn số 2003/BTP-PLQT về việc trả lại hồ sơ ủy thác tư pháp, theo đó Bộ Tư pháp trả lời: “Đối với trường hợp hồ sơ ủy thác sang Hoa Kỳ đương sự Nguyễn Anh T, thì theo quy định tại Điều 26 Thông tư Liên tịch 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại Giao và Tòa án nhân dân Tối cao quy định trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và Công văn số 829/BNG-LS ngày 14/3/2017 của Bộ Ngoại giao về việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự cho công dân Việt Nam ở nước ngoài, việc tống đạt văn bản tố tụng cho công dân Việt Nam ở nước ngoài được gửi trực tiếp cho Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Do đó, hồ sơ ủy thác tư pháp tống đạt này cần được Quý Tòa án gửi trực tiếp cho Cơ quan đại diện của Việt Nam ở Hoa Kỳ”.

Ngày 09 tháng 3 năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 21/UTTPDS-TA30 về ủy thác tư pháp gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 28 tháng 11 năm 2017, lần thứ hai vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 19 tháng 12 năm 2017 và xét xử công khai lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 20 tháng 3 năm 2018, xét xử công khai lần thứ hai vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2018 đối với ông Nguyễn Anh T.

Ngày 20/3/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 1455/TATP-TGĐVNCTN ngày 20/3/2018 gửi cho Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ yêu cầu Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ thông báo xét xử công khai lần thứ hai vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2018 đối với ông Nguyễn Anh T.

Ti phiên tòa sơ thẩm:

Ngày 12/6/2018, nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ H có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử vì lý do bận công tác xa.

Bị đơn ông Nguyễn Anh T đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Nguyễn Anh T không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Ngô Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông Nguyễn Anh T đang cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt đương sự: Xét bà Ngô Thị Mỹ H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Anh T đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Anh T và bà Ngô Thị Mỹ H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

n cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số số 05, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cấp ngày 14/5/2002 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Mỹ H và ông Nguyễn Anh T là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo lời khai của bà H thì hai vợ chồng sống chung được một thời gian ngắn thì ông Nguyễn Anh T trở về Hoa Kỳ, còn bà H vẫn sống ở Việt Nam. Thời gian đầu hai vợ chồng có liên lạc thường xuyên qua điện thoại và về thăm bà H. Ông T có làm thủ tục bảo lãnh bà H sang Hoa Kỳ để đoàn tụ gia đình nhưng hồ sơ của bà H không được Tổng Lãnh sự Quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận. Từ năm 2008 đến nay, hai vợ chồng bà H đã không còn liên lạc với nhau. Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong khi hai vợ chồng bà Ngô Thị Mỹ H và ông Nguyễn Anh T mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng càng không có điều kiện vun đắp nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Anh T là có cơ sở để chấp nhận.

Con chung: Bà Ngô Thị Mỹ H khai không có.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Mỹ H khai không có.

[3] Án phí, chi phí tố tụng khác:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Ngô Thị Mỹ H phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009.

Chi phí tố tụng khác: Bà Ngô Thị Mỹ H phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định. Bà H đã nộp đủ.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d Khoản 1, Khoản 2 Điều 469, điểm c Khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 27/02/2009;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ H.

Quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cấp ngày 14/5/2002 cho bà Ngô Thị Mỹ H và ông Nguyễn Anh T không còn giá trị pháp lý.

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Ngô Thị Mỹ H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0031637 ngày 02/12/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Về chi phí tố tụng khác: Bà Ngô Thị Mỹ H phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định. Bà H đã nộp đủ.

3/ Án xử sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bà Ngô Thị Mỹ H nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với ông Nguyễn Anh T thời hạn kháng cáo bản án là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 808/2018/HNGĐ-ST ngày 20/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:808/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về