Bản án 78/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 78/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 353/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 142/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 03 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Bị đơn: Nguyễn Văn S, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2020, chị Nguyễn Thị Hồng T là nguyên đơn trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Văn S kết hôn vào năm 2002, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện M, tỉnh An Giang vào ngày 08/8/2002.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2016, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và trầm trọng hơn vào năm 2018, nguyên nhân là do anh S thường xuyên ghen tuông mù quáng. Do đó, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 02/2019 cho đến nay. Mặc dù vợ chồng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với anh S.

- Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 14/4/2001 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 07/5/2010. Hiện nay các con chung do chị T nuôi dưỡng.

Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tấn P, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Thị Minh T đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết - Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Về tố tụng:

[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về ly hôn và nuôi con, địa chỉ của bị đơn tại huyện Cao Lãnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thị Hồng T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn S là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh S theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Về hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện M, tỉnh An Giang. Theo chị T trình bày thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì nguyên nhân anh S thường xuyên ghen tuông vô cớ. Vì vậy mà vợ chồng không còn chung sống từ tháng 02/2019 cho đến nay. Từ đó, vợ chồng không có được hạnh phúc, không thể chung sống được nữa nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh S. Về phía anh S là bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, nhưng anh S vẫn không tham dự phiên tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh S là đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[4] Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 14/4/2001 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 07/5/2010. Hiện nay, con chung tên Nguyễn Tấn P đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tấn P. Xét thấy, hiện cháu Tấn P đang chung sống với chị T ổn định và cháu cũng có nguyện vọng tiếp tục sống với chị T. Phía anh S không có ý kiến về việc nuôi con. Do đó, việc chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tấn P sau khi ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[5] Anh S không trực tiếp nuôi con chung nên có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T được tiếp tục nuôi con tên Tấn P sau khi ly hôn nên có quyền yêu cầu anh S cấp dưỡng. Tuy nhiên, chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Đối với con chung tên Nguyễn Thị Minh T hiện nay đã trưởng thành, chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Chị T trình bày không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào:

- Điều 28, 35, 39, 227 Bộ luật tố tụng dân sự:

- Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

2. Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 07/5/2010. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Hồng T không yêu cầu.

Anh Nguyễn Văn S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 14/4/2001 đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị Hồng T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không có.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003849 ngày 01/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

5. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:78/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về