Bản án 78/2019/HS-ST ngày 28/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 78/2019/HS-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hạng Thị C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Đội 1, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá (học vấn): Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hạng Phái L - sinh năm 1966; Con bà: Sủng Thị S - sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/02/2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Xuân Toán - Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

* Người phiên dịch: Anh Lầu A Sình - Sinh năm 1994; Nơi công tác: Phòng tư pháp huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 18/02/2019 Hạng Thị C đi bộ từ nhà tại Đội 1, xã H, huyện Đ, đi làm nương tại khu vực thuộc địa phận xã H, huyện Đ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày tại nương nhà mình, C gặp và mua được 01 gói Heroin và 01 gói chứa 02 viên Methamphetamine đều được gói bằng nilon màu trắng, miệng hơ lửa hàn kín của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ), mục đích để sử dụng cho bản thân. C trả cho người đàn ông dân tộc Mông đó 200.000 đồng và khoảng 03kg gạo nếp nương (tương đương với giá 70.000 đồng). Sau khi mua được, C cất giấu số ma túy mua được trong túi vải đeo trên người và đi về. Hồi 17 giờ cùng ngày, khi C đi về đến khu vực cột mốc 98 thuộc Đội 1, xã H, huyện Đ thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Mường Pồn phối hợp với Đồn biên phòng Thanh Luông và Công an xã Hua Thanh phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi vải C đang đeo trên người 01 gói Heroine có khối lượng 3,23 gam và 01 gói chứa 02 viên Methamphetamine có khối lượng 0,2 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 292/GĐ-PC09 ngày 28/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng Thị C gửi giám định là ma túy loại Heroine, mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng Thị C gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng vật chứng thu giữ của Hạng Thị C gồm: 3,23 gam chất bột màu trắng và 0,2 gam viên nén màu hồng.

Heroine nằm trong danh mục chất ma túy, STT 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 08/5/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 03 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định.

Bản cáo trạng số: 75/CT-VKSĐB ngày 06/5/2019 C Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hạng Thị C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hạng Thị C với mức hình phạt từ 42 đến 48 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 3,23 gam Heroine (đã trích 0,23gam gửi giám định không hoàn lại) và 0,2 gam methamphetamine (đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại) là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành là vật chứng của vụ án.

* Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo Hạng Thị C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Hạng Thị C, không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố; đối với bản luận tội của Kiểm sát viên: Người bào chữa cho rằng mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị từ 42 đến 48 tháng tù là quá cao, không phù hợp với nhân thân người phạm tội, thực tiễn khách quan, tính chất, mức độ vi phạm cũng như không căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là không phù hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số nghèo, không được đi học, không biết chữ, không biết tiếng phổ thông, thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, chưa có tiền án, tiền sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xem xét đến tính chất, mức độ, động cơ, mục đích phạm tội và nhân thân của người phạm tội để quyết định mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa C khai nhận do muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân nên vào khoảng 07 giờ ngày 18/02/2019 C một mình đi bộ từ nhà đi làm nương tại khu vực thuộc địa phận xã H, huyện Đ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày tại nương nhà mình C gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroin và 01 gói chứa 02 viên Methamphetamine đều được gói bằng nilon màu trắng, miệng hơ lửa hàn kín với giá 200.000 đồng và 03kg gạo nếp nương (tương đương với giá 70.000 đồng). Sau đó bị cáo cất giấu số ma túy mua được trong túi vải đeo trên người và đi về. Đến hồi 17 giờ cùng ngày, khi bị cáo đi về đến khu vực cột mốc 98 thuộc Đội 1, xã H, huyện Đ thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong túi vải bị cáo đang đeo trên người 01 gói Heroine có khối lượng 3,23 gam và 01 gói chứa 02 viên Methamphetamine có khối lượng 0,2 gam.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ ngày 18/02/2019 tại khu vực cột mốc 98 thuộc Đội 1, xã H, huyện Đ bị cáo đã có hành vi cất giấu trên người 3,23 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 3,43gam. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma túy có tổng khối lượng 3,43 gam của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích C các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;

Hạng Thị C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hạng Thị C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng C hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Nguyên nhân chính dẫn đến phạm tội là do bị cáo nghiện sử dụng ma túy từ năm 2014 cho đến nay, vì muốn có ma túy để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận. Tuy nhiên mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù là cao, chưa phù hợp với nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nghèo, không được đi học, không biết chữ, không biết tiếng phổ thông, thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo của người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị, bị cáo là người dân tộc thiểu số nghèo, thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 03 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi giám định.

[6] Về các vấn đề khác: Hạng Thị C khai mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hạng Thị C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Hạng Thị C 36 (Ba mươi sáu) tháng . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (18/02/2019).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 gam (ba gam) Heroine và 0,1 gam (không phẩy một gam) Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi giám định là vật chứng của vụ án.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2019 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 C Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng Thị C.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Hạng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2019).


22
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về