Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 08/08/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 78/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08/8/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2019/TLST- HNGĐ ngày 20/5/ 2019 về việc “ly hôn” theo quyết định xét xử số 83/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh 1998 (có đơn xin vắng mặt ).

HKTT: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Hồ Hoàn K, sinh 1994 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp D, xã E, thị xã F, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tư khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Hồ Hoàn K tự nguyện chung sống với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thị xã F ngày 17/02/2017. Trong quá trình chung sống hai người hạnh phúc, sau đó đến 2018 thì hai người thường xuyên tranh cãi do bất đồng với nhau về quan điểm sống, anh K không chăm lo hạnh phúc gia đình, ăn chơi lêu lỏng mặc dù cả hai người cũng cố gắng tạo điều kiện để hòa hợp mà lo cho con chung thế nhưng không thể hàn gắn được mà mâu thuẩn ngày càng trầm trọng hơn, anh chị đã ly thân hơn 01 năm nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Hoàn K.

Về con chung: Có 01 người tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 hiện đang do chị nuôi dưỡng, chăm sóc. Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Chị L có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Hồ Hoàn K trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Mỹ L về quá trình chung sống, kết hôn, về mâu thuẩn vợ chồng về con chung, tài sản chung, nợ chung. Cụ thể:

- Anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ L.

- Về con chung: Có 01 người tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 hiện đang do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Sau khi ly hôn anh đồng ý để chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Anh K có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con chung tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn bản sao số 349/TLKH-BS ngày 18/3/2019 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Đông thì anh Hồ Hoàn K và chị Nguyễn Thị Mỹ Lcó đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thị xã F ngày 17/02/2017 và lời trình bày của anh K, chị L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn năm 2017. Do đó quan hệ giữa anh K và chị L được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị L xin ly hôn với anh K thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với chị L, anh K nhưng chị L, anh K có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt chị L, anh K theo quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy đã là vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Anh K và chị L từ khi kết hôn với nhau đến nay đã có 01 con chung tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 hiện đang do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. anh chị chung sống hạnh phúc với nhau thời gian thì đã phát sinh mâu thuẩn, do tính tình không hợp nhau, bất đồng với nhau về quan điểm sống, anh K không chăm lo hạnh phúc gia đình, ăn chơi lêu lỏng mặc dù cả hai người cũng cố gắng tạo điều kiện để hòa hợp mà lo cho con chung thế nhưng không thể hàn gắn được mà mâu thuẩn ngày càng trầm trọng hơn. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K. Anh K cũng đồng ý ly hôn với chị L nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận này.

- Về con chung: Có 01 người tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 hiện đang do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh K đồng ý để chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây cũng là sự thỏa thuận của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn là chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Hồ Hoàn K.

- Về con chung: Giao con chung tên Hồ Thị Anh T, sinh ngày 09/8/2015 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không xem xét .

- Về nợ chung: Không xem xét.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng). Chị L đã nộp 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng ) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002331 ngày 16/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy nên xem như đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Anh K, chị L được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2019/HNGĐ-ST ngày 08/08/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:78/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về