Bản án 78/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 78/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/10/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 409/2018/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 về việc: "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21/9/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hải V, sinh năm 1991, cư trú tại: Tổ 3, khu 3, phường HH, thành phố H, Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa

- Bị đơn: Anh Phạm Huy D, sinh năm 1990, cư trú tại: Tổ 3, khu 3, phường HH, thành phố H, Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/6/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị Hải V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Huy D đăng ký kết hôn ngày 22/5/2015 tại Ủy ban nhân dân phường HH, thành phố H, Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn chị V và anh D chưa ai có vợ, có chồng và có thời gian tìm hiểu khoảng 08 tháng.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D thường xuyên cá độ bóng đá làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng cãi vã. Mặc dù chị V đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh D không thay đổi mà còn tiếp tục vay nợ cá nhân để cá độ bóng đá làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Từ tháng 01/2018 chị V và anh D tuy vẫn sống chung trong cùng một nhà nhưng đã ly thân về mặt tình cảm, không ai quan tâm đến ai. Từ tháng 6/2018 đến nay chị V đã dọn ra ngoài sống. Trong thời gian sống ly thân, chị V và anh D đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng không đoàn tụ lại được.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị V được ly hôn anh D.

Về con chung: Quá trình chung sống chị V và anh D có 01 con chung là Phạm Bùi Tuệ P – Sinh ngày 14/02/2017. Chị V đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị V và anh D không có tài sản chung, không vay nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Phạm Huy D, sau khi thụ lý vụ án do không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh D nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại địa chỉ cư trú của anh D nhưng anh D không đến Tòa án làm việc, không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Bùi Thị Hải V được ly hôn anh Phạm Huy D. Giao con chung Phạm Bùi Tuệ P cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng và sự vắng mặt của bị đơn:

Nguyên đơn – chị Bùi Thị Hải V khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn – anh Phạm Huy D, cư trú tại: Tổ 3, khu 3, phường HH, thành phố H, Quảng Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc Tòa án nhân dân thành phố H thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho đương sự theo quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/9/2018 cho bị đơn – anh Phạm Huy D. Tuy nhiên anh D không có phản hồi, không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị đơn điều này đã thể hiện việc bị đơn cố tình không chấp hành pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy việc xét xử vắng mặt bị đơn không ảnh hưởng đến tính khách quan khi giải quyết vụ án, đúng quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 và các quy định khác có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Hải V và anh Phạm Huy D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị V, Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của chị V và anh D phát sinh từ lâu xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân anh D thường xuyên vay nợ cá nhân để cá độ bóng đá làm ảnh hưởng đến kinh tế cũng như cuộc sống của gia đình. Mặc dù chị V đã khuyên giải và cho anh D cơ hội để sửa đổi nhưng anh D không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được.

Còn đối với anh D, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc niêm yết Thông báo phiên hòa giải tại nơi cư trú của anh D nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do. Việc Tòa án triệu tập anh D để hòa giải cho hai vợ chồng về đoàn tụ, nhưng anh D không đến, nên Tòa án không thể hòa giải để vợ chồng đoàn tụ được. Như vậy, thấy rằng việc không đến Tòa án để hòa giải của anh D đã thể hiện việc anh D không có thiện chí tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặt khác còn thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt, gây khó khăn cho việc giải quyết ly hôn.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án cũng đã đến nơi cư trú của chị V và anh D tại Tổ 3, khu 3, phường HH, thành phố H để xác minh về mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị và được tổ dân khu phố cung cấp thông tin: Tổ dân không nắm được cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh D. Khi chị V đến con xác nhận trong đơn ly hôn tổ dân mới biết anh chị mâu thuẫn đến mức phải nộp đơn ly hôn ra Tòa nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống. Tổ dân cũng đã đề nghị hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị V vẫn cương quyết xin ly hôn.

Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh D là có mâu thuẫn, những mâu thuẫn này đã phát sinh từ lâu, đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình thấy đã đủ căn cứ cho ly hôn.

[3] Về yêu cầu nuôi con chung thì thấy: Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Bùi Thị Hải V có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Bùi Tuệ P – Sinh ngày 14/02/2017 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Xét yêu cầu của chị V, Hội đồng xét xử thấy: Cháu Phạm Bùi Tuệ P còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) nên cần có sự chăm sóc của mẹ. Bản thân chị V là phụ nữ nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có thể đảm bảo hơn.

Đối với bị đơn – anh Phạm Huy D, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh D vắng mặt nên không có quan điểm về con chung.

Do đó việc giao con chung cho chị V trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục sẽ tạo được điều kiện tốt hơn để cháu phát triển cả về thể chất, tinh thần và phù hợp với quy định của pháp luật. Vì cậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hải V về việc nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị V không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hải V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[4] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Hải V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hải V được ly hôn anh Phạm Huy D.

2.  Về  con  chung:  Giao  con  chung  là  Phạm  Bùi  Tuệ  P  –  Sinh  ngày 14/02/2017 cho chị Bùi Thị Hải V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Huy D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị Hải V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003059 ngày 13/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, Quảng Ninh. Chị V đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

152
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 78/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về ly hôn

Số hiệu:78/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về