Bản án 772/2020/HNGĐ-ST ngày 13/08/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 BẢN ÁN 772/2020/HNGĐ-ST NGÀY 13/08/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1171/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thủy T, sinh năm 1985 Thường trú: xã Mỹ T, huyện Giồng T, tỉnh Bến T Địa chỉ: Nhà không số, kế 26/14 đường A, khu phố B, phường Hiệp Bình P, quận Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí M. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Bùi Thanh A, sinh năm 1985 Địa chỉ: Nhà không số, kế 26/14 đường A, khu phố B, phường Hiệp Bình P, quận Thủ Đ, Thành phố Hồ Chí M (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Phạm Thị Thủy T trình bày: Bà và ông Bùi Thanh A tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2010, không có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2016 tại Ủy ban nhân xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau khi lập gia đình ông bà sống tự lập. Theo bà cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, ông A nhậu say đánh đập bà từ đó cuộc sống chung không mạng lại hạnh phúc. Ông bà đã ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông A.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Bùi Ngọc A sinh ngày 14/8/2015. Sau khi ly hôn bà đồng ý giao con chung cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng, bà sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết Tại biên bản hòa giải ngày 02/6/2020 mặc dù ông A không ký biên bản nhưng ông Bùi Thanh A trình bày: Ông xác nhận thời gian kết hôn đúng như bà T trình bày. Theo ông, cuộc sống chung hạnh phúc bình thường tuy nhiên vợ chồng có lúc vẫn có mâu thuẫn nhưng ông không đồng ý ly hôn, ông mong muốn đoàn tụ gia đình để vợ chồng cùng lo cho con.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Bùi Ngọc A sinh ngày 14/8/2015. Trong trường hợp nếu Tòa án giải quyết ly hôn ông giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà Phạm Thị Thủy T vẫn giữ yêu cầu ly hôn, về con chung nếu ông A không nuôi con thì bà sẽ trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Bùi Thanh A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữ các đương sự là “Tranh chấp ly hôn” nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về nội dung: Bà Phạm Thị Thủy T và ông Bùi Thanh A tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 25/5/2016 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Ngày 18/10/2019 bà T nộp đơn xin ly hôn với ông A. Trong quá trình hòa giải bà T kiên quyết xin ly hôn, ông A xác định tình cảm vẫn còn, ông không đồng ý ly hôn, tại phiên Tòa hôm nay mặc dù ông A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông A đã xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2017, đến nay đời sống hôn nhân không tồn tại, vợ chồng không còn gắn bó tình cảm yêu thương nhau, không còn trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau. Đối với ông Bùi Thanh A Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông A vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông A không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, không chú tâm đến các yêu cầu của bà T và cũng không có ý thức tôn trọng pháp luật. Bà T cho rằng tình cảm vợ chồng giữa bà và ông A không còn, mục đích hôn nhân hiện nay cũng không đạt được, ông bà cũng đã ly thân và nay xin ly hôn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn với ông A.

Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà T và ông A cũng như giấy khai sinh của người con được bà T cung cấp trong hồ sơ vụ kiện, có cơ sở xác định quá trình sống chung giữa bà T và ông A có 01 người con chung tên Bùi Ngọc A sinh ngày 14/8/2015. Hội đồng xét xử nhận thấy, bà T có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc con, mặt khác tại biên bản hòa giải, ông A đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy căn cứ vào Điều 58, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Bùi Ngọc Ái để ổn định môi trường phát triển và học tập. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015. Bà T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thủy T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thủy T được ly hôn ông Bùi Thanh A.

 Về con chung: Có 01 người con chung tên Bùi Ngọc A sinh ngày 14/8/2015. Bà Phạm Thị Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Bùi Ngọc A sinh ngày 14/8/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con bà T tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

2-/ Về án phí: Bà Phạm Thị Thủy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà T đã nộp theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí số 0056064 ngày 28/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Bà T đã nộp đủ án phí. Ông Bùi Thanh A không phải chịu án phí.

3-/ Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


15
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 772/2020/HNGĐ-ST ngày 13/08/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:772/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức (cũ) - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về