Bản án 772/2020/HNGĐ-ST ngày 03/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 772/2020/HNGĐ-ST NGÀY 03/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 03 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2020/TLST–HNGĐ ngày 02/01/2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2020/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc Y – sinh năm: 1987.

Địa chỉ: đường L, khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Minh P – sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 3, phường H, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn khởi kiện ngày 19 tháng 11 năm 2019 của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Y, lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn trình bày:

Bà Lê Thị Ngọc Y và ông Nguyễn Hoàng Minh P tự nguyện sống chung vào năm 2009 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hiệp Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 quyển số 01/2009 ngày 24/3/2009.

Cuộc sống chung hạnh phúc được 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do ông P ăn chơi bên ngoài, không quan tâm đến vợ con chỉ biết lo cho bản thân. Từ đó, đôi bên đã sống ly thân và không còn gặp nhau để hàn gắn. Nay bà Y xác định tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Phú.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q – sinh ngày: 05/01/2010. Từ khi ly thân đến nay, con chung đang ở với bà Y. Bà Y yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của ông P đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông P vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Yến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Ngọc Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Minh P đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn cư trú tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Minh P đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc Y và ông Nguyễn Hoàng Minh P tự nguyện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường Hiệp Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 01/2009 ngày 24/03/2009. Như vậy, hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Y yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Minh Phú. Hội đồng xét xử NHẬN THẤY

Theo lời khai của bà Y, sau khi kết hôn được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và kéo dài từ đó đến nay. Nguyên nhân là do ông P ăn chơi bên ngoài, không quan tâm đến vợ con chỉ biết lo cho bản thân mình. Đôi bên đã ly thân từ đó đến nay nhưng không hàn gắn được. Tại phiên tòa, bà Y xác định tình cảm không còn nên giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Phú.

Hội đồng xét xử xét: tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng thương yêu, quý trọng và cùng có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Từ khi bà Y nộp đơn khởi kiện ly hôn, ông P cũng không tạo điều kiện hàn gắn tình cảm. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập ông P đến Tòa án để giải quyết nhưng ông P đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án. Cho thấy ông P không có biện pháp tích cực để đoàn tụ, hàn gắn, không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa ông P với bà Y. Xét, thực tế đôi bên không còn sống chung, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Y là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Y khai, vợ chồng chung sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q – sinh ngày: 05/01/2010. Tại bản khai ngày 25/02/2020 của cháu Nguyễn Hoàng Q thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ khi ba mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của người con được sống ổn định, được phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, chấp nhận yêu cầu của bà Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với quy định của pháp luật. Ghi nhận việc bà Y không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc Y phải chịu án phí 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39: Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Ngọc Y và ông Nguyễn Hoàng Minh Phú.

Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2009 ngày 24/3/2009 do Ủy ban nhân dân phường Hiệp Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Lê Thị Ngọc Y và ông Nguyễn Hoàng Minh P không còn giá trị pháp lý.

2. Về nuôi con chung:

Giao cho bà Lê Thị Ngọc Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Q – sinh ngày: 05/01/2010 và ông Nguyễn Hoàng Minh P không cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc Y phải chịu án phí 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0013008 ngày 24/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9. Như vậy bà Y đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 772/2020/HNGĐ-ST ngày 03/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:772/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 (cũ) - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về