Bản án 77/2019/HS-ST ngày 23/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 77/2019/HS-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981, tên gọi khác: không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo:

Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955 và bà Dương ThịĐ, sinh năm 1956; có vợ Lê Thị N, sinh năm 1985 và có 2 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013); nhân thân: Tại bản án số 41/2010/HSST ngày 30/6/2010 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn Q 05 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Q đã chấp hành xong khoản tiền phạt bổ sung 3.000.000đ và án phí 200.000đ); tiền án: Tại bản án số 66/2013/HSST ngày 10/10/2013 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn Q 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Q đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành khoản tiền phạt bổ sung 3.000.000đ và án phí 200.000đ); tiền sự:Không có; bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 21/01/2019, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2019 tại Trại tam giam Công an tỉnh Bắc Giang đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

* Người chứng kiến:

1.Nguyễn Hòài N, sinh năm 1986, địa chỉ: Số nhà 142, đường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

2. Hoàng Anh T, sinh năm 1982, địa chỉ: Số nhà 78, đường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 05 phút ngày 21/01/2019, tại khu vực cầu, cống Năm Cửa trên đường H, thành phố B, Tổ công tác Công an thành phố B bắt quả tang Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Q:

+ 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, thu giữ tại thành cầu cống Năm Cửa cạnh chỗ Nguyễn Văn Q bị bắt giữ, được cho vào trong một bì thư, niêm phong theo quy định.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N8-1625.

+ 01 điện thoại di động Sangsung đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 22/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:Trong một phong bì thư được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa màu trắng là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,405 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 21/01/2019, Nguyễn Văn Q đi xe mô tô biển kiểm soát 98N8-1625 từ nhà lên khu vực đoạn đường 295B gần dốc Bađa thuộc thôn Mỹ Cầu, xã Tân Mỹ, thành phố B mục đích đi mua ma túy để sử dụng. Khi lên đến nơi, Q rẽ vào một nhà không có số nhà, có cổng sắt và cửa sắt, tại đây, qua khe cửa, Q hỏi mua 500.000đ được 01 túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa bên trong đựng ma túy đá của một người không quen biết. Sau khi mua được ma túy, Q cầm ở tay trái và đút tay vào trong túi áo khoác bên trái Q đang mặc, lái xe đi về đến khu vực cầu, cống Năm Cửa, trên đường H, thành phố B thì bị lực lượng công an kiểm tra, do sợ hãi và giật mình, Q đã làm văng túi ma túy từ tay trái đang đút trong túi áo khoác bên trái Q đang mặc rơi xuống thành cầu cống Năm Cửa, hành vi của Q bị Công an phát hiện thu giữ, niêm phong vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy, Q khai mua qua khe cửa của một nhà (thường gọi là nhà “Cò Trang”) trên đường 295B, thuộc thôn M, thành phố B và không biết ai là người trong nhà đã bán ma túy cho Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xác minh, xác định ngôi nhà nơi Q mua ma túy là nhà của Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996, tạm trú tại địa chỉ trên, tuy nhiên Nguyễn Thị Thu T không thừa nhận việc bán ma túy, nên không đủ căn cứ để làm rõ ai là người đã bán ma túy cho Q để xử lý.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N8-1625 bị cáo khai là xe bị cáo mượn của anh Nguyễn Văn Đ là anh rể bị cáo, đăng ký mang tên anh Đ. Anh Nguyễn Văn Đ đề nghị được xin lại xe để lấy phương tiện đi làm.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì đựng mẫu vật là ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng; 01 xe môtô nhãn hiệu SYMAX biển kiểm soát 98N8-1625, được nhập kho vật chứng để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 02 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và như Cáo trạng nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 22 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/01/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám định.

- Trả lại: Bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án; anh Nguyễn Văn Đ 01 xe môtô nhãn hiệu SYMAX biển kiểm soát 98N8-1625.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/01/2019, lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, Kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 22/01/2019 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 05 phút ngày 21/01/2019, tại khu vực cầu, cống Năm Cửa, trên đường H, thành phố B bị cáo Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,405 gam chất ma túy Methamphetamine để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Q đã có đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm họa xã hội, làm sói mòn đạo đức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức và sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên Đảng và Nhà nước đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này. Bị cáo vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không làm chủ bản thân nên đã cố ý phạm tội. Do đó, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần về tội “ Đánh bạc” nhưng đến nay vẫn tiếp tục phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 66/2013/HSST ngày 10/10/2013 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang xử phạt Q 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành khoản tiền phạt bổ sung 3.000.000đ và án phí 200.000đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử nhưng không chịu cải sửa, tu dưỡng nay lại phạm tội. Do vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục bị cáo, phòng ngừa tội phạm cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo.

[8] Tại Biên bản xác minh ngày 24/01/2019, chính quyền địa phương nơi bị cáo Q cư trú cung cấp bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng nộp án phí và hình phat bổ sung,do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Q.

[9]Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua qua khe cửa của một nhà (thường gọi là nhà “Cò Trang”) trên đường 295B, thuộc thôn Mỹ Cầu, xã Tân Mỹ, thành phố B nhưng không biết ai là người trong nhà đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xác minh, xác định ngôi nhà nơi bị cáo mua ma túy là nhà của Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996, tạm trú tại địa chỉ trên, tuy nhiên Nguyễn Thị Thu T không thừa nhận việc bán ma túy nên không đủ căn cứ để làm rõ ai là người đã bán ma túy cho bị cáo để xử lý.

[10] Đối với 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[11] Đối với 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo theo quy tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[12] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu SYMAX biển kiểm soát 98N8-1625 là của anh Nguyễn Văn Đ cho bị cáo mượn, anh Đ không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, nay anh Đ đề nghị được trả lại là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

[14] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo Q để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ,tạm giam 21/01/2019 3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật là ma túy hoàn lại sau giám định.

 - Trả lại: Bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án; anh Nguyễn Văn Đ 01 xe môtô nhãn hiệu SYMAX biển kiểm soát 98N8-1625 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2019/HS-ST ngày 23/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:77/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về